Bốc Dịch Vô Tranh

Con đường tới Genève (1949–1954)

Biên soạn ·

Nước Pháp đã quyết định rời Đông Dương trước khi thua một trận lớn nào: từ tháng 5/1953, đa số người Pháp có ý kiến đã muốn đàm phán, và từ tháng 10/1953…

Luận điểm

Nước Pháp đã quyết định rời Đông Dương trước khi thua một trận lớn nào: từ tháng 5/1953, đa số người Pháp có ý kiến đã muốn đàm phán, và từ tháng 10/1953 Quốc hội đã buộc chính phủ phải tìm đường ra. Bài này dựng lại chuỗi sự kiện ở Paris từ 1949 đến tháng 7/1954 qua ba kênh: hai vụ bê bối (vụ tướng lĩnh 1949–1950 và vụ buôn lậu piastre 1948–1953), chi phí chiến tranh và sự lệ thuộc vào Mỹ, và sự xói mòn dư luận đo bằng thăm dò IFOP. Diễn biến quân sự ở Đông Dương được cố ý để ngoài khung bài.

Ba luận điểm phụ:

  1. Hai vụ bê bối không làm Pháp thua, nhưng làm mất lý do để tiếp tục: chúng chứng minh cho công chúng rằng giới chỉ huy chia rẽ, giới cầm quyền tư lợi, và tiền thuế Pháp đang mua súng cho đối phương.
  2. Cơ chế tỉ giá piastre là trục nối hai vụ: báo cáo Revers năm 1949 đã tố cáo vụ buôn lậu piastre; người chạy cho tướng Mast cũng tham gia buôn piastre; và chính vụ piastre năm 1953 là lúc dư luận lật hẳn.
  3. Con đường tới Genève được quyết định bằng số phiếu ở Palais-Bourbon và bằng ngân sách, trước khi được ký bằng chữ ký ở Thụy Sĩ.

Nguồn: toàn bộ thăm dò IFOP 1945–1954 (Ifop Collectors n°29), Alain Ruscio (Vingtième Siècle 1991), Hugues Tertrais, La piastre et le fusil (2002), hồ sơ FranceArchives về vụ Revers–Mast, Jacques Despuech, Le Trafic des piastres (1953), biên niên Mémoires Indochine, và các trang lưu trữ dẫn ở cuối bài.

Bối cảnh 1945–1949: một tỉ giá chính trị và một cuộc chiến ngày càng đắt

Cuối 1945, Pháp ấn định 1 piastre = 17 franc và đặt mọi chuyển tiền Đông Dương–Pháp dưới sự cấp phép của Office indochinois des changes (OIC). Mức 17 franc không phản ánh sức mua của piastre, vốn chỉ quanh 10 franc hoặc thấp hơn trên thị trường tự do; khi piastre được chuyển về Pháp qua OIC, Ngân khố Pháp trả đủ 17 franc, tức một khoản trợ giá khoảng 8,50 franc mỗi piastre theo tính toán của Despuech (Wikipedia, Piastres affair). Khoảng cách này là nguyên liệu của mọi thứ xảy ra sau đó.

Ngân hàng Đông Dương giữ vị trí kép: phát hành tiền và kinh doanh thương mại. Theo báo cáo điều tra Quốc hội năm 1954, ngân hàng này gần như độc quyền tại chỗ, dùng các chi nhánh ở nước ngoài để chuyển piastre, và đã nhiều lần tìm cách phá hoại việc phá giá (Politique Magazine).

Song song, chi phí chiến tranh bắt đầu vượt khỏi tầm kiểm soát. Tài khoản đặc biệt số 2 dùng để trả chiến phí tăng gần gấp ba từ 1949 sang 1950, từ 9,5 lên 30 tỷ franc; từ 1951 các Quốc gia Liên kết lần đầu xuất hiện trong ngân sách chính quốc với 31 tỷ franc trên tổng 182 tỷ dành cho Đông Dương (Tertrais, ch. II). Năm 1950 chi phí lên 241,2 tỷ franc (giá 1953), bằng 45% tín dụng quân sự của Pháp (Tertrais, La direction du Budget).

Dư luận lúc này còn lạc quan nhưng đã bắt đầu nứt. Tháng 1/1947, 58% tin Đông Dương sẽ ở lại Liên hiệp Pháp; đến tháng 7/1949 phe muốn tiếp tục chiến tranh chỉ còn 19%, trong khi 38% muốn ngừng chiến và công nhận độc lập của Việt Nam (IFOP Collectors n°29). Đó là tháng mà tướng Revers nộp báo cáo.

Ảnh: piastre và định chế phát hành

Đồng 1 piastre Liên bang Đông Dương đúc năm 1947, mặt mang dòng UNION FRANÇAISE: đơn vị tiền tệ nằm ở tâm cơ chế tỉ giá
Ảnh 1. Đồng 1 piastre Liên bang Đông Dương đúc năm 1947, mặt mang dòng UNION FRANÇAISE: đơn vị tiền tệ nằm ở tâm cơ chế tỉ giá 1 piastre = 17 franc do Pháp ấn định cuối 1945. Nguồn: Wikimedia Commons, 1 Piastre - Indo-Chinese Federation (1947) Art-Hanoi 01.jpg — Sema (from Art-Hanoi.com) · Attribution.
Piastre Đông Dương do Banque de l’Indochine phát hành (bản 1921–1931): ngân hàng này giữ quyền phát hành cho tới khi bị
Ảnh 2. Piastre Đông Dương do Banque de l’Indochine phát hành (bản 1921–1931): ngân hàng này giữ quyền phát hành cho tới khi bị tách khỏi chức năng ấy năm 1952–1953. Nguồn: Wikimedia Commons, 1 Piastre French Indo-China (1921-1931 issue) 01.jpg — Donald Trung · CC BY-SA 4.0.
Phòng giao dịch một chi nhánh Banque de l’Indochine (ảnh 1917): định chế phát hành piastre và là đầu mối chuyển tiền qua
Ảnh 3. Phòng giao dịch một chi nhánh Banque de l’Indochine (ảnh 1917): định chế phát hành piastre và là đầu mối chuyển tiền qua Office indochinois des changes. Nguồn: Wikimedia Commons, The Banque de l'Indochine, The Bund, The Office.jpg — W. H. Morton Cameron · Public domain.

Vụ tướng lĩnh (affaire des généraux), 1949–1950

Vụ tướng lĩnh là lần đầu tiên công chúng Pháp thấy rằng chính Tổng tham mưu trưởng của họ không tin vào cuộc chiến. Tháng 6/1949, tướng Georges Revers, Tổng tham mưu trưởng lục quân, được cử đi Đông Dương và viết một báo cáo mật về tình hình chính trị, quân sự và kinh tế (FranceArchives). Báo cáo dài sáu mươi trang và phần lớn là tiêu cực (EBSCO). Revers kết luận Pháp không thể duy trì sự hiện diện thuộc địa bằng quân sự, cần tìm một nền hòa bình của những người dũng cảm với Hồ Chí Minh, rút khỏi các vùng phía bắc do Việt Minh kiểm soát để giữ đồng bằng sông Hồng (Wikipedia, Generals' affair). Báo cáo cũng tố cáo bằng lời lẽ gay gắt vụ buôn lậu piastre và nêu tên nhiều nhân vật (saigon-vietnam.fr).

Diễn biến

  1. Tháng 5/1949: Revers đi Đông Dương, đi trước ông là Roger Peyré, người thân tín muốn tham gia buôn piastre và mang theo mẫu vải cho quân nhu (Wikimonde). Peyré làm đại diện vận động cho tướng Charles Mast, người muốn được bổ nhiệm Cao ủy Đông Dương, với sự ủng hộ của Revers.
  2. 26/8/1949: đài Việt Minh phát từng phần nội dung báo cáo (EBSCO).
  3. 18/9/1949: một cựu quân nhân Pháp vừa hồi hương, Thomas Perez, ẩu đả với hai người Việt trên xe buýt ở Paris; cảnh sát khám cặp của Đỗ Đại Phước và thấy bản báo cáo Revers (Getty Images, Paris Match). Khám xét giới Đông Dương ở Paris tìm ra 38 bản sao (saigon-vietnam.fr).
  4. Điều tra DST: Văn Cơ khai nhận bản báo cáo từ Peyré; Peyré ban đầu chối, rồi khai Mast đưa cho mình tại nhà riêng; Mast chối nhưng Peyré mô tả căn hộ của Mast đến từng chi tiết (Wikipédia, Affaire des généraux).
  5. 12/1949: Bộ trưởng Quốc phòng René Pleven cách chức Revers và Mast; 6/1950 cả hai bị cho về hưu (Getty Images).
  6. 17/1/1950: Quốc hội lập ủy ban điều tra, có cả dân biểu cộng sản Maurice Kriegel-Valrimont (saigon-vietnam.fr). Báo cáo viên Roger Duveau, dân biểu Madagascar, thắc mắc nguồn gốc tài sản của Mast và trách Revers về các quan hệ bất thường và thư từ hạ thấp phẩm giá; chính phủ Bidault đổ ngay sau khi hai tướng bị về hưu, danh nghĩa là vì quy chế công chức nhưng ai cũng hiểu là vì vụ này (Tribune Histoire).

Vì sao vụ này quan trọng cho con đường tới Genève

  • Nó công khai hóa kết luận của chính quân đội Pháp: thắng không được. Từ đây, lập luận chủ chiến mất chỗ dựa kỹ thuật.
  • Nó buộc ghép ba thứ vào một hồ sơ: tướng lĩnh, môi giới chính trị, và piastre. Peyré vừa là người chạy chức cho Mast vừa là người muốn buôn piastre; báo cáo Revers vừa nói về chiến lược vừa tố cáo tỉ giá. Công chúng hiểu rằng cuộc chiến và tiền bạc là một.
  • Nó phá tín nhiệm thể chế: giới Việt kiều ở Paris cầm tài liệu tối mật trước cả Quốc hội Pháp. Lưu trữ cũng cho thấy DST thu được cả tờ tuyên truyền Việt Minh Notes sur le rapport du général Revers và hồ sơ về Trần Ngọc Danh (FranceArchives), nghĩa là đối phương đã dùng chính báo cáo của Pháp làm tài liệu chính trị.

Sau vụ này, Mendès France lần đầu lên diễn đàn về Đông Dương vào tháng 10/1950; ông chưa từng đụng chủ đề này trước đó (Romo-Navarrete, CIHAE 2006).

Ảnh: các nhân vật vụ tướng lĩnh

Tướng Georges Revers, Tổng tham mưu trưởng lục quân Pháp, tác giả bản báo cáo tháng 5/1949 bị tiết lộ — khởi điểm vụ tướ
Ảnh 4. Tướng Georges Revers, Tổng tham mưu trưởng lục quân Pháp, tác giả bản báo cáo tháng 5/1949 bị tiết lộ — khởi điểm vụ tướng lĩnh. Nguồn: Wikimedia Commons, Gala FFI 1947 - general Revers (cropped).jpg — DPM de C · CC BY-SA 4.0.
Tướng Revers trao cravate Bắc đẩu bội tinh cho đại tá Paul Massebiau, 2/7/1949 — hai tháng sau chuyến đi Đông Dương sinh
Ảnh 5. Tướng Revers trao cravate Bắc đẩu bội tinh cho đại tá Paul Massebiau, 2/7/1949 — hai tháng sau chuyến đi Đông Dương sinh ra bản báo cáo. Nguồn: Wikimedia Commons, Génral Revers remet cravatte LH à colonel Paul Massebiau 2 7 1949 2022-06-11 001.jpg — DPM de C · CC BY-SA 4.0.
Tướng Charles Mast, người cùng bị điều tra với Revers và là ứng viên cho chức Cao ủy Đông Dương mà Roger Peyré vận động.
Ảnh 6. Tướng Charles Mast, người cùng bị điều tra với Revers và là ứng viên cho chức Cao ủy Đông Dương mà Roger Peyré vận động. Nguồn: Wikimedia Commons, Charles Mast, 1943.jpg — Marjory Collins · Public domain.
Tướng Mast và vợ (ảnh 1943, thời ông làm Tổng trú sứ Tunisia). Tháng 1/1950, Paris Match đăng phóng sự về hai người tại
Ảnh 7. Tướng Mast và vợ (ảnh 1943, thời ông làm Tổng trú sứ Tunisia). Tháng 1/1950, Paris Match đăng phóng sự về hai người tại nhà riêng ở Paris khi vụ Revers–Mast bùng ra. Nguồn: Wikimedia Commons, General and Madame Mast. 8d32413v.jpg — Marjory Collins · Public domain.
Nội các Georges Bidault II trình diện Tổng thống Auriol, 28/10/1949 — chính phủ đương nhiệm khi bản báo cáo Revers bị ph
Ảnh 8. Nội các Georges Bidault II trình diện Tổng thống Auriol, 28/10/1949 — chính phủ đương nhiệm khi bản báo cáo Revers bị phát hiện đã rơi vào tay Việt Minh. Nguồn: Wikimedia Commons, 28 octobre 1949 - Le gouvernement Georges Bidault II.jpg — Photo New York Times · CC0.
Jules Moch, Bộ trưởng Quốc phòng 1950, người đình chỉ Revers và Mast rồi phải trả lời trước Quốc hội về vụ việc.
Ảnh 9. Jules Moch, Bộ trưởng Quốc phòng 1950, người đình chỉ Revers và Mast rồi phải trả lời trước Quốc hội về vụ việc. Nguồn: Wikimedia Commons, Jules Moch en 1950.jpg — AnonymousUnknown author (Keystone-France) · Public domain.
Chính phủ Henri Queuille (1950): Queuille cầm quyền khi hồ sơ Revers–Mast chuyển từ tòa quân sự sang ủy ban điều tra của
Ảnh 10. Chính phủ Henri Queuille (1950): Queuille cầm quyền khi hồ sơ Revers–Mast chuyển từ tòa quân sự sang ủy ban điều tra của Quốc hội. Nguồn: Wikimedia Commons, Gouvernement Queuille 1950.jpg — Associated Press · CC BY-SA 4.0.
Vincent Auriol, Tổng thống Đệ tứ Cộng hòa 1947–1954, người nhận các báo cáo DST về vụ tướng lĩnh.
Ảnh 11. Vincent Auriol, Tổng thống Đệ tứ Cộng hòa 1947–1954, người nhận các báo cáo DST về vụ tướng lĩnh. Nguồn: Wikimedia Commons, Portrait officiel Vincent Auriol (cropped).jpg — AnonymousUnknown author (Studio Harcourt) · Public domain.

Vụ buôn lậu piastre (affaire des piastres), 1948–1953

Vụ piastre biến cuộc chiến từ một gánh nặng thành một sự sỉ nhục: tiền thuế Pháp, qua cửa sổ tỉ giá của chính nước Pháp, đã mua vũ khí cho đối phương. Giới nghiên cứu chính trị đồng ý rằng cuốn sách của Despuech năm 1953 là bước ngoặt quyết định của cuộc chiến (saigon-vietnam.fr).

Cơ chế

Mua piastre ở Sài Gòn, Chợ Lớn hoặc Hồng Kông với giá thực (khoảng 8–10 franc), xin giấy phép OIC chuyển về Pháp theo giá 17 franc, hưởng chênh lệch gần gấp đôi; để có giấy phép thì dựng hóa đơn nhập khẩu, công ty ma, hoặc hối lộ. Các đường dây đi qua Hồng Kông và dùng đô la hoặc vàng làm trung gian; Ngân hàng Đông Dương né kiểm soát vốn bằng chi nhánh nước ngoài (Politique Magazine). Tertrais chỉ ra nghịch lý kế toán: hàng tỷ piastre chuyển sang Pháp vừa được Ngân khố coi là nguồn thu tại chỗ, vừa là một khoản chi ở Pháp mỗi khi lượng chuyển vượt tín dụng quân sự cấp cho Đông Dương (Tertrais, Introduction). Nói cách khác, nền kinh tế Đông Dương suốt bảy năm chỉ dựa trên một sự thịnh vượng giả tạo do tỉ giá nhân tạo sinh ra (Tertrais, Academia).

Ai hưởng

Theo Despuech, trong số nhân vật lớn tham gia có Bảo Đại, cựu Cao ủy Émile Bollaert, các tướng Mast và Revers, cựu bộ trưởng Paul Giaccobi; thời điểm đó René Bousquet là giám đốc Ngân hàng Đông Dương và Mitterrand là bộ trưởng Pháp quốc hải ngoại từ 1950 (Extrême-Orient(é)). Despuech viết rằng khung xương của đường dây là các nhân vật chính trị và tài chính, các dân biểu bị mua bằng một tấm séc, các đảng xin tiền cho kỳ tranh cử tới (Politique Magazine). Sách của ông chỉ đích danh cả Tổng thống Vincent Auriol và con trai Paul (Extrême-Orient(é)).

Việt Minh

Vụ việc bị phát giác từ 1950 nhưng chỉ gây chú ý hạn chế ở nghị trường, cho đến 1952–1953 khi người ta nhận ra Việt Minh cũng hưởng lợi, và một phần vũ khí bắn vào lính Pháp, kể cả lính Senegal và Maroc, đã được mua nhờ đường dây này; tác động lên dư luận cực kỳ tai hại (Wikipédia, Affaire des piastres). Chính phủ trước đó từ chối phá giá vì sợ làm nản lòng quân nhân ở mặt trận, những người coi đường dây này là nguồn làm giàu cá nhân (Anecdotes historiques).

Nổ, phá giá, điều tra

Ngày Sự kiện Nguồn
30/1/1953 Bộ trưởng Letourneau tuyên bố trên Le Monde rằng người ta phóng đại khi nói về buôn piastre Politique Magazine
Xuân 1953 Jacques Despuech, nhân viên OIC Sài Gòn bị sa thải trong hoàn cảnh đáng ngờ, in Le Trafic des piastres (Deux Rives) saigon-vietnam.fr
11/5/1953 Chính phủ René Mayer, bị chất vấn tại Quốc hội, hạ piastre từ 17 xuống 10 franc, vi phạm hiệp định 8/3/1949 và hiệp định Pau 1950 vì không tham vấn các Quốc gia Liên kết saigon-vietnam.fr, fr-academic
21/5/1953 Chính phủ Mayer đổ Theatrum Belli
2/7/1953 Quốc hội bỏ phiếu 606–0 lập ủy ban điều tra về buôn piastre Theatrum Belli
1/9/1953 Đoàn chuyên gia của ủy ban đi Đông Dương thu chứng cứ fr-academic
12/12/1953 Quốc hội quyết định giữ kín công việc của ủy ban; ủy ban nghe hơn 75 quan chức cấp cao được miễn nghĩa vụ giữ bí mật trong 18 tháng fr-academic, saigon-vietnam.fr

Hai chi tiết cho thấy mức độ: phiếu 606–0 có nghĩa là không một dân biểu nào, kể cả phe chủ chiến, dám bảo vệ cơ chế này nữa; và quyết định giữ kín ngày 12/12/1953 cho thấy điều ủy ban tìm ra nặng đến mức không thể công bố giữa lúc đang đàm phán. Despuech sau đó bị cảnh sát liên bang Đông Dương dựng chiến dịch bôi nhọ và nhận lời đe dọa (Politique Magazine).

Vụ piastre góp phần làm mất tư cách của cả một lớp nhân sự chính trị bị coi là tham nhũng (saigon-vietnam.fr). Đó là lớp nhân sự sẽ phải bỏ phiếu cho hòa bình.

Ảnh: vụ piastre, tiền tệ và người chịu trách nhiệm

Tờ 1 piastre do Institut d’émission des États du Cambodge, du Laos et du Viêt-nam phát hành năm 1953, sau khi quyền phát
Ảnh 12. Tờ 1 piastre do Institut d’émission des États du Cambodge, du Laos et du Viêt-nam phát hành năm 1953, sau khi quyền phát hành bị lấy khỏi Banque de l’Indochine. Nguồn: Wikimedia Commons, 1 Piastre - Institut d'Emission des Etats du Cambodge, du Laos et du Vietnam (1953) 02.jpg — The Institut d'Emission des Etats du Cambodge, du Laos et du Vietnam. · Public domain.
Tờ 5 piastres 1953 dùng cho Việt Nam: ba đơn vị Kip–Đồng–Riel trên cùng một tờ tiền là dấu vết cơ chế tiền tệ chung sắp
Ảnh 13. Tờ 5 piastres 1953 dùng cho Việt Nam: ba đơn vị Kip–Đồng–Riel trên cùng một tờ tiền là dấu vết cơ chế tiền tệ chung sắp tan. Nguồn: Wikimedia Commons, 5 Piastres - Institut d'Émission des États du Cambodge, du Laos et du Viet-Nam (1953) South Vietnam 02.jpg — The Institut d'Émission des États du Cambodge, du Laos et du Viet-Nam. · Public domain.
Bản 1 piastre 1954 dành cho Campuchia do cùng Viện phát hành in: sau 1953 một đồng tiền chung được in thành ba bản quốc
Ảnh 14. Bản 1 piastre 1954 dành cho Campuchia do cùng Viện phát hành in: sau 1953 một đồng tiền chung được in thành ba bản quốc gia — bước tháo dỡ trên thực tế của cơ chế piastre. Nguồn: Wikimedia Commons, 1 Piastre - Institut d'Émission des États du Cambodge, du Laos et du Viet-Nam (1954) Cambodia 02.jpg — The Institut d'Émission des États du Cambodge, du Laos et du Viet-Nam. · Public domain.
Jean Letourneau, Bộ trưởng các Quốc gia liên kết và Cao ủy Đông Dương 1952–1953, nhân vật trung tâm của các chất vấn về
Ảnh 15. Jean Letourneau, Bộ trưởng các Quốc gia liên kết và Cao ủy Đông Dương 1952–1953, nhân vật trung tâm của các chất vấn về vụ piastre. Nguồn: Wikimedia Commons, Jean Letourneau en 1952.jpg — AnonymousUnknown author (Keystone France) · Public domain.
Bảo Đại cùng Vincent Auriol, Jean Letourneau và Thủ tướng Antoine Pinay tại điện Élysée, 15/10/1952 — vài tháng trước kh
Ảnh 16. Bảo Đại cùng Vincent Auriol, Jean Letourneau và Thủ tướng Antoine Pinay tại điện Élysée, 15/10/1952 — vài tháng trước khi vụ piastre nổ ra trên báo chí Pháp. Nguồn: Wikimedia Commons, His Majesty Bảo Đại and Mr. Vincent Auriol with Mr. Jean Letourneau and Mr. Antoine Pinay at the Élysée.jpg — Le Service de Presse et d'Information du Haut-Commissariat du Viet Nam en France · Public domain.
René Mayer, Thủ tướng Pháp khi piastre bị phá giá từ 17 xuống 10 franc (11/5/1953) — quyết định chấm dứt nguồn lợi của đ
Ảnh 17. René Mayer, Thủ tướng Pháp khi piastre bị phá giá từ 17 xuống 10 franc (11/5/1953) — quyết định chấm dứt nguồn lợi của đường dây buôn lậu. Nguồn: Wikimedia Commons, René Mayer en 1949.jpg — AnonymousUnknown author (Keystone France) · Public domain.

Dư luận Pháp 1947–1954: thờ ơ rồi chán

Đa số người Pháp có ý kiến muốn chấm dứt chiến tranh từ tháng 5/1953, chín tháng trước khi Berlin đưa Đông Dương vào chương trình nghị sự Genève. Tháng 5/1953 là lần đầu thăm dò ghi nhận một đa số ủng hộ ngừng chiến; trong cuộc khủng hoảng lập chính phủ sau khi nội các Mayer đổ, mọi ứng viên Thủ tướng đều nhắc tới khả năng rút quân và hòa bình đàm phán (Armée française, guerre d'Indochine).

Phe muốn đàm phán hoặc rút quân vượt phe chủ chiến từ 1949 và đạt 60% tháng 2/1954% người Pháp trả lời câu hỏi IFOP: Phải làm gì ở Đông Dương?Đàm phán với Việt Minh hoặc rút quânTiếp tục chiến tranh, gửi viện binhKhông ý kiến020406037192715737494250607/19477/194910/19505/19532/1954
Hình 1. Nguồn số liệu: IFOP Collectors n°29 (2014), toàn bộ thăm dò 1945–1954; câu trả lời tự phát; đường xanh cộng gộp đàm phán + ngừng chiến + rút quân.

Đường chủ chiến rơi từ 37% xuống 7%; đường hòa bình lên 60%, và chính con số 60% này được IFOP in đậm làm tiêu đề cho tháng 2/1954. Đáng chú ý: hồi phục ngắn tháng 10/1950 (27%) và tháng 4/1951 (32% muốn gửi viện binh so với 26% muốn rút) trùng với giai đoạn de Lattre, rồi tan hẳn (IFOP Collectors n°29).

Hai đặc điểm của dư luận này

  • Thờ ơ hơn là phản chiến. Khác với Algérie, chiến tranh Đông Dương hầu như không huy động được dư luận Pháp; các nhóm hoạt động thiểu số không tạo được phong trào thật sự (Ruscio, Vingtième Siècle 1991). Tỉ lệ không bao giờ đọc tin Đông Dương là 30% năm 1947, 20% năm 1950, lên lại 30% năm 1954 (Wikipédia, Guerre d'Indochine). Tướng Navarre thừa nhận đây không phải chiến tranh của dân tộc mà là một doanh nghiệp xa xôi do quân đội nhà nghề tiến hành, dân tộc không hiểu ý nghĩa và không tham dự (Wikipédia, Opposition).
  • Chán lan sang cả cử tri cánh hữu. Tháng 5/1953, 41% cử tri MRP và 28% cử tri RPF (phe de Gaulle) đã muốn đàm phán hoặc rút quân (Wikipédia, Guerre d'Indochine, Opposition). Đó là lý do phiếu ở Quốc hội đổi chiều mà không cần cánh tả thắng cử.

Phong trào có tổ chức: cộng sản dẫn, trí thức theo

  • Đảng Cộng sản Pháp và CGT là lực lượng duy nhất xuống đường từ đầu. Ngày 23/2/1950, nữ nhân viên đánh máy Raymonde Dien, chưa đầy 21 tuổi, nằm trên đường ray ở ga Saint-Pierre-des-Corps (Tours) chặn đoàn tàu chở xe bọc thép đi Đông Dương, bị bắt ngay tối hôm đó và được thả Giáng sinh 1950; năm 1953 Leningrad dựng tượng bà nằm trên đường ray (WFTU, VUFO).
  • Thủy thủ Henri Martin bị quân cảnh bắt ngày 13/3/1950 vì tội đồng lõa phá hoại; án bị hủy ngày 19/5/1951 nhưng ông chỉ được thả ngày 2/8/1953. Chiến dịch đòi thả ông có Jean-Marie Domenach và tạp chí Esprit, Jean Cocteau, và Sartre, người cuối 1953 in cuốn L'Affaire Henri Martin (Wikipedia, Henri Martin affair). Picasso vẽ chân dung ông, Éluard và Aragon làm thơ (Freitag).
  • Công nhân cảng Marseille: biểu tình ngày 10/1/1950 trên Canebière với khẩu hiệu đoàn kết chống cuộc chiến bẩn thỉu và hòa bình cho Việt Nam, cảnh sát chặn lối vào cảng nơi công nhân bốc xếp đình công (INA, Sudorama).
  • Trong SFIO, chỉ Alain Savary, dân biểu không hàng đầu, giữ được suốt cuộc chiến một tiếng nói khác, ủng hộ đàm phán trực tiếp với Hồ Chí Minh (Raison présente 2023).

Phong trào này không tạo được đa số, nhưng nó tạo ra từ vựng: sale guerre trở thành cách gọi mà cả báo chí trung dung dùng. Khi hai vụ bê bối nổ, từ vựng đã sẵn.

Laniel, Thủ tướng áp chót của giai đoạn Pháp, thừa nhận: cuộc chiến Đông Dương không được lòng dân, điều đó đúng (Wikipédia, Opposition).

Ảnh: dư luận và phong trào phản chiến

Raymonde Dien tại Đại hội Thanh niên Thế giới lần III, Berlin 8/1951: người nằm trên đường ray ở Tours ngày 23/2/1950 để
Ảnh 18. Raymonde Dien tại Đại hội Thanh niên Thế giới lần III, Berlin 8/1951: người nằm trên đường ray ở Tours ngày 23/2/1950 để chặn tàu chở vũ khí đi Đông Dương đã thành biểu tượng quốc tế. Nguồn: Wikimedia Commons, Bundesarchiv Bild 183-11500-0846, Berlin, III. Weltfestspiele, Eröffnungsfeier, Raymonde Dien.jpg — Horst Sturm · CC BY-SA 3.0 de.
Raymonde Dien được chào đón ở Berlin, 8/1951 — chiến dịch tuyên truyền quanh vụ Tours biến một hành vi cá nhân thành chí
Ảnh 19. Raymonde Dien được chào đón ở Berlin, 8/1951 — chiến dịch tuyên truyền quanh vụ Tours biến một hành vi cá nhân thành chính trị quốc tế. Nguồn: Wikimedia Commons, Bundesarchiv Bild 183-11500-1019, Berlin, III. Weltfestspiele, Eröffnungsfeier, Raymonde Dien.jpg — Klein · CC BY-SA 3.0 de.
Tượng Raymonde Dien dựng năm 1953, nay ở Zelenogorsk (Saint Petersburg) — mức khuếch đại của vụ việc trong khối Xô viết.
Ảnh 20. Tượng Raymonde Dien dựng năm 1953, nay ở Zelenogorsk (Saint Petersburg) — mức khuếch đại của vụ việc trong khối Xô viết. Nguồn: Wikimedia Commons, Памятник Раймонде Дьен в Зеленогорске СПб.JPG — Пётр Иванов · Public domain.
Chân dung Henri Martin do Fernand Léger vẽ năm 1952, trong chiến dịch đòi trả tự do cho người thủy thủ bị kết án vì phát
Ảnh 21. Chân dung Henri Martin do Fernand Léger vẽ năm 1952, trong chiến dịch đòi trả tự do cho người thủy thủ bị kết án vì phát tán tài liệu phản chiến; Picasso vẽ một bản khác. Nguồn: Wikimedia Commons, Portrait of Henri Martin.jpg — Fernand Leger · Public domain.
Trang nhất L’Humanité ngày 25/7/1954 mừng kết thúc chiến tranh Đông Dương: tờ báo của PCF vận động chống cuộc chiến từ 1
Ảnh 22. Trang nhất L’Humanité ngày 25/7/1954 mừng kết thúc chiến tranh Đông Dương: tờ báo của PCF vận động chống cuộc chiến từ 1947. Nguồn: Wikimedia Commons, Huma Paix Viet Nam.jpg — L'Humanité · Public domain.

Chi phí và lệ thuộc Mỹ: một cuộc chiến mà Pháp không còn tự trả nổi

Đến 1954, Mỹ gánh phần lớn chi phí chiến tranh Đông Dương, nghĩa là Pháp vừa mất khả năng tự quyết vừa mất lý do giữ thuộc địa (Bulletin Institut Pierre Renouvin 2021). Tổng chi phí cuối cuộc chiến được nói tới là khoảng 3.000 tỷ franc, gần một tỷ franc mỗi ngày (Tertrais, Introduction). Chính phủ Pháp chỉ chính thức gánh 1.800 tỷ franc (giá 1953) trong 1946–1954, tức 60% tổng chi phí; phần còn lại do Mỹ và các Quốc gia Liên kết chịu (Persée, IHTP 1996).

Mốc Con số Nguồn
Đầu thập niên 1950 Chiến phí Đông Dương chiếm khoảng 10% ngân sách quốc gia Tertrais, La direction du Budget
1950 241,2 tỷ franc (giá 1953), bằng 45% tín dụng quân sự Tertrais, La direction du Budget
1952–1953 Khoảng 460 tỷ franc mỗi năm; 486 tỷ dự kiến cho 1954 Tertrais, La direction du Budget
Đối giá viện trợ Mỹ Có thể nuôi ngân sách Pháp cả dân sự lẫn quân sự, ước 265 tỷ franc Tertrais, La direction du Budget
1952 → 1954 Ngân sách quân sự riêng của Việt Nam liên kết tăng từ 91 lên 167 tỷ franc (17% lên 25% chi quân sự ở Đông Dương); các quân đội quốc gia dự kiến tiêu 195 tỷ năm 1954, bằng toàn bộ chi phí chiến tranh năm 1949 Tertrais, ch. IV
Dự toán Goetze Kể cả viện trợ Mỹ, vẫn thiếu khoảng 900 tỷ franc để khép một ngân sách ước 3.450 tỷ Tertrais, ch. II

Ba hệ quả chính trị:

  1. Hội nghị Lisbon 1952 của NATO đã gắn viện trợ Mỹ cho Đông Dương với cam kết tái vũ trang châu Âu; từ khi Eisenhower lên, viện trợ có thêm vế kinh tế (Bulletin Institut Pierre Renouvin 2021). Chiến tranh Đông Dương trở thành một mục trong ngân sách Chiến tranh Lạnh của Washington, và Paris mất quyền tự định đoạt thời điểm dừng.
  2. Ngày 8/7/1953 Quốc hội phải trao quyền đặc biệt cho chính phủ Laniel (329 phiếu chống 277) để lập pháp bằng sắc lệnh trong lĩnh vực kinh tế, nhằm giảm thâm hụt công đã trở nên không đáy do chiến phí bên ngoài và khủng hoảng kinh tế; cuộc bỏ phiếu này châm ngòi một trong những khủng hoảng xã hội lớn nhất của Đệ tứ Cộng hòa (Theatrum Belli). Tức là cử tri Pháp cảm thấy cuộc chiến trong túi tiền của họ chính vào mùa hè 1953, cùng lúc với vụ piastre.
  3. Mendès France xây toàn bộ lập luận trên chi phí. Ngày 19/10/1950, sau Cao Bằng, ông tấn công chi phí cắt cổ của cuộc chiến và tác động của nó lên chủ quyền của Pháp, khẳng định chỉ một giải pháp chính trị mới đưa Pháp ra khỏi xung đột (Institut Pierre Mendès France). Lập luận tài chính là lập luận duy nhất mà cánh hữu không bác được.

Ảnh: tiền Mỹ, khí tài Mỹ

Thủ tướng René Pleven gặp Tổng thống Truman tại Nhà Trắng, 29/1/1951: thương lượng viện trợ Mỹ cho cuộc chiến mà ngân sá
Ảnh 23. Thủ tướng René Pleven gặp Tổng thống Truman tại Nhà Trắng, 29/1/1951: thương lượng viện trợ Mỹ cho cuộc chiến mà ngân sách Pháp không còn tự trả nổi. Nguồn: Wikimedia Commons, Photograph of President Truman in the Oval Office with the Prime Minister of France, Rene Pleven, as Secretary of... - NARA - 200264.jpg — Abbie Rowe · Public domain.
Phó Tổng thống Richard Nixon và Đại sứ Mỹ tại Sài Gòn Donald R. Heath, 2/11/1953 — Heath là tác giả loạt điện tín về khủ
Ảnh 24. Phó Tổng thống Richard Nixon và Đại sứ Mỹ tại Sài Gòn Donald R. Heath, 2/11/1953 — Heath là tác giả loạt điện tín về khủng hoảng chính trị Việt–Pháp mùa thu 1953 in trong FRUS. Nguồn: Wikimedia Commons, NH 77148.jpg — Naval History and Heritage Command NH 77148 · Public domain.
Tàu sân bay La Fayette (nguyên USS Langley, Mỹ cho Pháp thuê) ở Đông Dương, 4/1953: phần lớn khí tài giai đoạn cuối cuộc
Ảnh 25. Tàu sân bay La Fayette (nguyên USS Langley, Mỹ cho Pháp thuê) ở Đông Dương, 4/1953: phần lớn khí tài giai đoạn cuối cuộc chiến do Mỹ cấp. Nguồn: Wikimedia Commons, La Fayette Indochina.jpg — U.S. Naval Historical Center photograph. · Public domain.
Một cuộc đổ bộ bằng dù của quân Pháp ở Đông Dương: tới 1953–1954, Washington trả phần lớn chi phí quân sự của cuộc chiến
Ảnh 26. Một cuộc đổ bộ bằng dù của quân Pháp ở Đông Dương: tới 1953–1954, Washington trả phần lớn chi phí quân sự của cuộc chiến này. Nguồn: Wikimedia Commons, French paratroopers First Indochina War.jpg — Gautier Sauteret / Cassowary's Archive · Public domain.

Quốc hội Pháp từ 10/1950 đến 11/1953: bốn năm để một ý tưởng thành đa số

Ý tưởng đàm phán trực tiếp với Việt Minh đi từ một bài diễn văn gây sốc tháng 10/1950 đến một nghị quyết của Quốc hội tháng 10/1953 và một tuyên bố chính thức của Thủ tướng tháng 11/1953. Mendès France là người mang nó, nhưng chính hai vụ bê bối và ngân sách mới làm nó trở thành đa số.

Ngày Sự kiện Nguồn
19/10/1950 Sau Cao Bằng (3–8/10) và Lạng Sơn (18/10), Mendès France lần đầu lên diễn đàn, đặt câu hỏi về việc tiếp tục cuộc chiến; gây sốc, gây chú ý, chưa thuyết phục Romo-Navarrete
22/11/1950 Ông lặp lại chỉ trích, đề xuất ngừng bắn và giải pháp chính trị qua bầu cử Institut PMF
30/12/1951 Diễn văn 'Pour une solution négociée en Indochine': đã năm năm chiến tranh, phải lựa chọn Assemblée nationale, Grands discours
21/5/1953 Chính phủ Mayer đổ, mười ngày sau khi phá giá piastre Theatrum Belli
3/6/1953 Mendès France ra ứng cử Thủ tướng, chỉ được 301 phiếu thay vì 314 cần thiết, vì lập trường Đông Dương; Laniel được bầu sau 40 ngày khủng hoảng Assemblée nationale
2/7/1953 606–0 lập ủy ban điều tra piastre Theatrum Belli
8/7/1953 Quyền đặc biệt về kinh tế cho Laniel, 329–277 Theatrum Belli
27/10/1953 Tranh luận Đông Dương; Quốc hội yêu cầu chính phủ tìm giải pháp đàm phán Mémoires Indochine, 11/1953
12/11/1953 Laniel tuyên bố trước Hội đồng Cộng hòa: nếu có một giải pháp danh dự, trong khung cục bộ hay quốc tế, Pháp sẽ vui mừng đón nhận giải pháp ngoại giao như Mỹ ở Triều Tiên; Paris cử đô đốc Cabanier sang Sài Gòn hỏi Navarre về cơ hội đình chiến Mémoires Indochine
29/11/1953 Expressen (Thụy Điển) đăng trả lời phỏng vấn bằng văn bản của Hồ Chí Minh với Svante Löfgren: sẵn sàng ký đình chiến với Pháp; Tổng thống Auriol thúc Laniel đáp lại, tự tay soạn câu trả lời Mémoires Indochine
9/3/1954 Tranh luận Đông Dương, Mendès France đòi đàm phán trực tiếp với Việt Minh Theatrum Belli

Điều cần đọc trong bảng: ngày 3/6/1953, Mendès France thua 13 phiếu vì Đông Dương; ngày 27/10/1953, cùng Quốc hội đó biểu quyết yêu cầu chính phủ đàm phán. Giữa hai mốc là phá giá piastre, phiếu 606–0, quyền đặc biệt về kinh tế và thăm dò tháng 5/1953. Tuyên bố 12/11 của Laniel đi theo hướng mà Mendès France và cánh tả vẫn đòi (Mémoires Indochine). Lời đề nghị của Hồ Chí Minh ngày 29/11 rơi vào một Paris đã muốn nghe.

Trong SFIO, tiếng nói đàm phán có từ Daniel Guérin, Paul Rivet, Yves Dechezelles, rồi Alain Savary (Raison présente 2023); de Gaulle ngày 7/4/1954 cũng khuyên đàm phán (Sens public). Khi cả người cộng sản, người xã hội, một nửa MRP và cả de Gaulle đều nói đàm phán, chính phủ Laniel chỉ còn chọn khung: Berlin.

Ảnh: nghị trường và các thủ tướng

Nghị trường Palais-Bourbon (ảnh 1926): nơi các cuộc bỏ phiếu 10/1950, 10/1953 và 6/1954 lần lượt khép lại khả năng tiếp
Ảnh 27. Nghị trường Palais-Bourbon (ảnh 1926): nơi các cuộc bỏ phiếu 10/1950, 10/1953 và 6/1954 lần lượt khép lại khả năng tiếp tục chiến tranh. Nguồn: Wikimedia Commons, Chambre des députés, 21-7-26 (l'hémicycle, discours de M.) Herriot - btv1b53166936r.jpg — Agence Rol · Public domain.
Ảnh báo chí tháng 12/1953 đặt cạnh nhau Thủ tướng Joseph Laniel và Hồ Chí Minh: sau lời mời đàm phán trên Expressen (29/
Ảnh 28. Ảnh báo chí tháng 12/1953 đặt cạnh nhau Thủ tướng Joseph Laniel và Hồ Chí Minh: sau lời mời đàm phán trên Expressen (29/11/1953), chính phủ Laniel bị Quốc hội buộc phải trả lời câu hỏi thương lượng. Nguồn: Wikimedia Commons, Joseph Laniel, Bestanddeelnr 906-1491.jpg — Daan Noske / Anefo · CC0.
Ảnh ghép của hãng Anefo (1954): chân dung Pierre Mendès France đặt trên nền Palais-Bourbon — con đường tới Genève được q
Ảnh 29. Ảnh ghép của hãng Anefo (1954): chân dung Pierre Mendès France đặt trên nền Palais-Bourbon — con đường tới Genève được quyết bằng số phiếu trong tòa nhà này. Nguồn: Wikimedia Commons, Mendes Franse met parlementsgebouw, Bestanddeelnr 906-9172.jpg — Anefo · CC0.
Pierre Mendès France cuối 1954: người biến đa số chống chiến tranh ở Palais-Bourbon thành một hạn chót ngoại giao.
Ảnh 30. Pierre Mendès France cuối 1954: người biến đa số chống chiến tranh ở Palais-Bourbon thành một hạn chót ngoại giao. Nguồn: Wikimedia Commons, Mendes Franse, Bestanddeelnr 906-9171.jpg — Anefo · CC0.

Phía Quốc gia Việt Nam: phá giá đơn phương và Đại hội toàn quốc tháng 10/1953

Vụ piastre lấy mất của Pháp cả đồng minh mà nó đang chiến đấu để bảo vệ: phá giá đơn phương ngày 11/5/1953 cho Sài Gòn thấy Pháp vẫn hành xử như chủ thuộc địa, và năm tháng sau Đại hội toàn quốc của chính Bảo Đại bỏ phiếu không gia nhập Liên hiệp Pháp.

Phá giá đơn phương

Việc hạ piastre từ 17 xuống 10 franc vi phạm hiệp định 8/3/1949 và hiệp định Pau 1950 vì các Quốc gia Liên kết Campuchia, Lào, Việt Nam không được tham vấn (fr-academic, Affaire des piastres). Điều này đẩy phe quốc gia không cộng sản vào thế không thể bảo vệ Liên hiệp Pháp trước dân chúng, đúng lúc Pháp cần họ nhất.

Đại hội toàn quốc, Sài Gòn, 15–17/10/1953

Đại hội do Bảo Đại triệu tập để chọn một danh sách 20 người cho phái đoàn đàm phán với Pháp; chỉ thị của ông là không được bàn về việc gia nhập Liên hiệp Pháp vì ông đã quyết định khẳng định (FRUS 1952–54, XIII, d400). Ngày 16/10, Đại hội bất ngờ biểu quyết nhất trí một nghị quyết: Liên hiệp Pháp xây trên Hiến pháp 1946 trái với chủ quyền của một quốc gia độc lập; quyết định không gia nhập Liên hiệp Pháp; mọi đàm phán và quyết định quốc tế về Việt Nam phải do người Việt quyết (FRUS, d420). Đại sứ Mỹ ở Paris gọi đó là một quả bom với Bộ Ngoại giao Pháp (FRUS, d421).

Phản ứng ở London cùng ngày: Bidault, trong trạng thái rất xúc động, nói với Dulles rằng hành động này sẽ bơm thêm quá nhiều nước cho cối xay của Reynaud và Mendès France, và áp lực rút khỏi Đông Dương sẽ không cưỡng được nếu không sửa trong vài ngày; Auriol ở Paris cũng được báo là rất kích động (FRUS, d422). Hôm sau, dưới áp lực của Bảo Đại qua Bửu Lộc, Đại hội biểu quyết lại 141/169 để sửa thành không gia nhập Liên hiệp Pháp dưới hình thức hiện tại (FRUS, d423); Đại sứ Heath ghi rằng không ai dám đưa ra một cử chỉ nào với Pháp vì sợ bị gọi là thân Pháp (FRUS, d426). Phản ứng của các quan chức Pháp bị Bửu Lộc mô tả là nghiêm khắc ngoài dự kiến, và Laniel muốn Bảo Đại lập ngay phái đoàn nhưng không thể vì tranh luận ở Quốc hội và công hàm của Pháp (FRUS, d432).

Vì sao đây là một mắt xích tới Genève

Nghị quyết Sài Gòn rơi đúng mười một ngày trước tranh luận 27/10/1953 ở Palais-Bourbon. Chính Bidault, người chủ chiến nhất trong chính phủ, đã dự đoán hệ quả của nó: nó cho phe đàm phán ở Paris lý lẽ cuối cùng — người Pháp đang chết cho một quốc gia không muốn ở lại Liên hiệp Pháp. Bảo Đại, khi gặp phái đoàn Thượng viện Mỹ tháng 11/1953, gọi đó là cái gọi là Đại hội toàn quốc, nhận rằng nó gây căng thẳng ở Pháp và kích động ở Việt Nam, và kết luận rằng không có viện trợ Mỹ thì chiến tranh đã thua (FRUS, d452). Hai bên đã nói với Washington cùng một điều: Pháp không còn là bên quyết định.

Ảnh: phía Quốc gia Việt Nam

Nguyễn Văn Tâm, Thủ tướng Quốc gia Việt Nam 1952–1953, người triệu tập Đại hội toàn quốc tháng 10/1953.
Ảnh 31. Nguyễn Văn Tâm, Thủ tướng Quốc gia Việt Nam 1952–1953, người triệu tập Đại hội toàn quốc tháng 10/1953. Nguồn: Wikimedia Commons, Mr. Nguyen Van Tam.jpg — tác giả không rõ · Public domain.
Quốc trưởng Bảo Đại và Tổng thống Vincent Auriol, 15/3/1953: quan hệ Pháp–Quốc gia Việt Nam căng dần quanh tỉ giá và yêu
Ảnh 32. Quốc trưởng Bảo Đại và Tổng thống Vincent Auriol, 15/3/1953: quan hệ Pháp–Quốc gia Việt Nam căng dần quanh tỉ giá và yêu cầu độc lập hoàn toàn. Nguồn: Wikimedia Commons, Chief of State Bảo Đại and President Vincent Auriol.jpg — LE SERVICE DE PRESSE ET D'INFORMATION DU HAUT-COMMISSARIAT DU VIET NAM EN FRANCE · Public domain.
Thủ tướng Bửu Lộc và Thủ tướng Joseph Laniel, 4/6/1954: ký hai hiệp ước công nhận Việt Nam độc lập hoàn toàn, bảy tuần t
Ảnh 33. Thủ tướng Bửu Lộc và Thủ tướng Joseph Laniel, 4/6/1954: ký hai hiệp ước công nhận Việt Nam độc lập hoàn toàn, bảy tuần trước Genève. Nguồn: Wikimedia Commons, Bửu Lộc Laniel.jpg — AFP · CC0.
Trần Văn Hữu, Thủ tướng Quốc gia Việt Nam 1950–1952, người tiền nhiệm trong chuỗi chính phủ phụ thuộc ngân khố Pháp.
Ảnh 34. Trần Văn Hữu, Thủ tướng Quốc gia Việt Nam 1950–1952, người tiền nhiệm trong chuỗi chính phủ phụ thuộc ngân khố Pháp. Nguồn: Wikimedia Commons, Trần-Văn-Hữu, State of Vietnam Tran-van-Huu's Government.jpg — Nhà tổng giám đốc thông tin Việt Nam (State of Vietnam government work) · Public domain.

Từ Berlin tới Genève: khung ngoại giao được mở trước khi có bất kỳ thất bại nào

Đông Dương được đưa vào chương trình nghị sự Genève ngày 18/2/1954, tức hai tháng rưỡi trước khi cục diện quân sự thay đổi; quyết định ngoại giao đi trước, không đi sau. Hội nghị Berlin (25/1–18/2/1954) họp bốn ngoại trưởng Dulles, Bidault, Eden, Molotov, thất bại về Đức và Áo, và kết quả tích cực duy nhất là tổ chức hội nghị Genève từ 26/4/1954 với Trung Quốc tham dự để bàn Triều Tiên và hòa bình ở Đông Dương (Universalis). Thông cáo cuối cùng ghi rõ: vấn đề lập lại hòa bình ở Đông Dương cũng sẽ được thảo luận tại hội nghị, với Mỹ, Pháp, Anh, Liên Xô, Trung Quốc và các nước liên quan (FRUS, Berlin communiqué).

Nghịch lý: Bidault, người ba tháng trước lo nghị quyết Sài Gòn sẽ tiếp sức cho Mendès France, chính là người đem Đông Dương lên bàn Berlin. Ông không có lựa chọn khác: tuyên bố 12/11/1953 của Laniel đã công khai cam kết đón nhận giải pháp ngoại giao, và lời đề nghị đình chiến của Hồ Chí Minh ngày 29/11 đã được Auriol thúc trả lời.

Ba mốc cuối

Ngày Sự kiện Nguồn
26/4/1954 Genève khai mạc; giai đoạn Đông Dương từ 8/5; Bidault là trưởng đoàn Pháp; đàm phán Pháp–Việt Minh bắt đầu ngày 9/6 dưới Bidault Relations internationales 133
12/6/1954 Chính phủ Laniel đổ Wikipedia, PMF
17–18/6/1954 Mendès France đọc diễn văn nhậm chức, đề nghị một hợp đồng với các dân biểu: ra trình diện trước 20/7, không có đình chiến thì từ chức; phiên họp từ 15h ngày 17/6 đến 2h sáng 18/6, kết quả công bố lúc 1h55 Clionautes, Jalons, Archontology
18/6/1954 Ngay ngày được bầu, ông bắt tay vào Đông Dương; đàm phán Pháp–Việt Minh nối lại ngày 22/6; gặp Chu Ân Lai tại Bern ngày 23/6 Relations internationales 133, Le Petit Journal
20–21/7/1954 Hiệp định đình chỉ chiến sự ký trong đêm 20 rạng 21/7; Mendès France thắng cược; cực hữu lập tức gọi ông là kẻ bán rẻ Genève Assemblée nationale, Le Petit Journal

Dư luận đi sau chữ ký: mùa hè 1954, 77% người Pháp xếp Đông Dương là vấn đề phải giải quyết đầu tiên, trước Bắc Phi, kinh tế và CED; tháng 8–9/1954, 48% coi đình chiến là có lợi so với 21% bất lợi, và 58% cho rằng trong tình thế đó, đây là điều tốt nhất có thể mong (IFOP Collectors n°29). Cùng lúc, chỉ còn 15% tin Đông Dương sẽ ở lại Liên hiệp Pháp, so với 63% năm 1945. Cử tri đã bỏ cuộc chiến trước cả chính phủ, và bỏ Liên hiệp Pháp trước cả Bảo Đại.

Ảnh: từ Berlin 1954 tới lễ ký Genève 21/7/1954

Chuẩn bị Hội nghị Bốn cường quốc tại tòa nhà Hội đồng Kiểm soát Đồng minh, Berlin 18/1/1954 — phía Liên Xô mang máy chữ
Ảnh 35. Chuẩn bị Hội nghị Bốn cường quốc tại tòa nhà Hội đồng Kiểm soát Đồng minh, Berlin 18/1/1954 — phía Liên Xô mang máy chữ riêng tới. Khung ngoại giao dẫn tới Genève mở ra ở đây, trước khi có bất kỳ thất bại quân sự nào. Nguồn: Wikimedia Commons, Conferentie grote 4 Berlijn Geallieerde Contr. Comm. De Russen brengen eigen sch, Bestanddeelnr 906-2509.jpg — Daan Noske / Anefo · CC0.
Tem phát hành cho Hội nghị Bốn cường quốc Berlin, 25/1–18/2/1954 — hội nghị ra thông cáo triệu tập Genève.
Ảnh 36. Tem phát hành cho Hội nghị Bốn cường quốc Berlin, 25/1–18/2/1954 — hội nghị ra thông cáo triệu tập Genève. Nguồn: Wikimedia Commons, DBPB 1954 116 Viermächtekonferenz.jpg — scanned by NobbiP · Public domain.
Georges Bidault, Ngoại trưởng Pháp tại Hội nghị Berlin 1954 và trưởng đoàn Pháp ở Genève cho tới khi Mendès France thay
Ảnh 37. Georges Bidault, Ngoại trưởng Pháp tại Hội nghị Berlin 1954 và trưởng đoàn Pháp ở Genève cho tới khi Mendès France thay ông ngày 20/6/1954. Nguồn: Wikimedia Commons, Georges Bidault.jpg — Unknown authorUnknown author · CC BY-SA 3.0 nl.
Georges Bidault (trái), Anthony Eden và John Foster Dulles: ba trong bốn ngoại trưởng định hình khung Berlin–Genève.
Ảnh 38. Georges Bidault (trái), Anthony Eden và John Foster Dulles: ba trong bốn ngoại trưởng định hình khung Berlin–Genève. Nguồn: Wikimedia Commons, Georges Bidault, Anthony Eden and John Foster Dulles.jpg — Unknown authorUnknown author · CC BY-SA 3.0 nl.
Anthony Eden, Ngoại trưởng Anh (ảnh 26/6/1954), đồng chủ tịch Hội nghị Genève.
Ảnh 39. Anthony Eden, Ngoại trưởng Anh (ảnh 26/6/1954), đồng chủ tịch Hội nghị Genève. Nguồn: Wikimedia Commons, Picture of MR ANTHONY EDEN.png — Nigerian Spokesman Newspaper · Public domain.
Vyacheslav Molotov, Ngoại trưởng Liên Xô (bìa TIME 1953), đồng chủ tịch Genève cùng Eden.
Ảnh 40. Vyacheslav Molotov, Ngoại trưởng Liên Xô (bìa TIME 1953), đồng chủ tịch Genève cùng Eden. Nguồn: Wikimedia Commons, Vyacheslav Molotov-TIME-1953.jpg — Time Inc. · Public domain.
Một phiên họp của Hội nghị Genève về Đông Dương, 1954.
Ảnh 41. Một phiên họp của Hội nghị Genève về Đông Dương, 1954. Nguồn: Wikimedia Commons, 1954 Geneva Conference.jpg — US Army Photograph · Public domain.
Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai tại Genève, 26/4/1954.
Ảnh 42. Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai tại Genève, 26/4/1954. Nguồn: Wikimedia Commons, Zhou Enlai at Geneva.jpg — Unknown authorUnknown author · Public domain.
Phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Hội nghị Genève, 8/5/1954.
Ảnh 43. Phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Hội nghị Genève, 8/5/1954. Nguồn: Wikimedia Commons, Phái đoàn Việt Nam tại Hội nghị Genève (1954).jpg — Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Bình Minh · CC0.
Toàn cảnh phiên toàn thể tại Palais des Nations, Genève, 21/7/1954, sau khi hiệp định đình chiến được ký.
Ảnh 44. Toàn cảnh phiên toàn thể tại Palais des Nations, Genève, 21/7/1954, sau khi hiệp định đình chiến được ký. Nguồn: Wikimedia Commons, Ap540721012 geneva conference 1954.jpg — AP-Photo/sm/stf · Public domain.
Phiên toàn thể cuối cùng về Đông Dương tại Palais des Nations, 21/7/1954.
Ảnh 45. Phiên toàn thể cuối cùng về Đông Dương tại Palais des Nations, 21/7/1954. Nguồn: Wikimedia Commons, 1stIndochinaWar003.jpg — Unknown authorUnknown author · Public domain.
Bản Hiệp định về đình chỉ chiến sự ở Việt Nam, Genève, ghi ngày 20/7/1954 (thực tế ký sáng 21/7).
Ảnh 46. Bản Hiệp định về đình chỉ chiến sự ở Việt Nam, Genève, ghi ngày 20/7/1954 (thực tế ký sáng 21/7). Nguồn: Wikimedia Commons, Accord de Genève 1954 Viêt Nam.jpg — Marc Baronnet · CC BY-SA 4.0.
Bản đồ phân chia tạm thời tại vĩ tuyến 17, phụ lục của Hiệp định Genève 1954.
Ảnh 47. Bản đồ phân chia tạm thời tại vĩ tuyến 17, phụ lục của Hiệp định Genève 1954. Nguồn: Wikimedia Commons, Division of Vietnam Geneve Accord.png — United Nations · Public domain.

Tổng hợp: chuỗi nhân quả và trọng số

Khung ngoại giao của Genève được quyết định ở Paris giữa tháng 5/1953 và tháng 2/1954, bởi tiền, bê bối và phiếu; diễn biến quân sự mùa xuân 1954 chỉ ấn định điều khoản, không ấn định quyết định đàm phán.

Ba dòng áp lực gặp nhau ở Quốc hội Pháp tháng 10/1953 rồi dẫn thẳng tới GenèveVụ tướng lĩnh 1949–1950Revers: thắng không đượcBáo cáo tố cáo buôn piastreVụ piastre 1953Despuech; phá giá 11/5; 606–0Tiền Pháp mua súng cho Việt MinhChi phí và lệ thuộc Mỹ~3.000 tỷ franc, 1 tỷ mỗi ngày1954: Mỹ gánh phần lớnDư luận IFOP5/1953: đa số muốn ngừng2/1954: 60% hòa bình, 7% chiếnSài Gòn, 16/10/1953Đại hội: không gia nhập LHPBidault: áp lực khó cưỡngQuốc hội Pháp 10–11/195327/10: đòi tìm đàm phán12/11: Laniel mở cửa ngoại giaoBerlin, 18/2/1954Đông Dương vào nghị sự GenèveBidault tự đưa lên bànGenève, 20–21/7/1954Mendès France cược 1 thángĐình chiến ký đúng hạn
Hình 2. Chuỗi nhân quả: ba nguồn áp lực, hai điểm hội tụ, ba mốc quyết định.

Hai vụ bê bối và chi phí đổ vào dư luận; dư luận và nghị quyết Sài Gòn đổ vào Quốc hội; từ Quốc hội, đường đi qua Berlin tới Genève là thẳng.

Trọng số từng yếu tố

Yếu tố Tác động chính Bằng chứng mạnh nhất
Chi phí và viện trợ Mỹ Nền: làm cuộc chiến không thể tiếp tục bằng ngân sách Pháp, và chuyển quyền quyết định sang Washington 1.800 tỷ franc chính thức = 60% tổng chi phí; quyền đặc biệt 8/7/1953
Vụ piastre Ngòi nổ: biến gánh nặng thành sỉ nhục, làm mất tư cách lớp chính trị chủ chiến, đẩy Sài Gòn xa Pháp Phiếu 606–0; phá giá đơn phương; chính phủ Mayer đổ 10 ngày sau
Vụ tướng lĩnh Tiền đề: công khai kết luận không thắng được của chính quân đội, nối tướng lĩnh với piastre Báo cáo Revers bị đài Việt Minh phát; chính phủ Bidault đổ 1950
Dư luận Giới hạn: không tạo phong trào nhưng rút hết chỗ dựa của phe chủ chiến, kể cả trong MRP và RPF 7% muốn tiếp tục tháng 2/1954; 41% MRP muốn đàm phán tháng 5/1953
Đại hội Sài Gòn Chất xúc tác: lấy đi lý do cuối cùng của phe chủ chiến đúng 11 ngày trước tranh luận 27/10 Bidault nói với Dulles: áp lực rút sẽ không cưỡng được
Mendès France Người mang ý tưởng, không phải người tạo đa số: thua 13 phiếu tháng 6/1953, được bầu tháng 6/1954 khi đa số đã có 301/314 ngày 3/6/1953; cược 20/7/1954

Điều còn tranh cãi

  • Ruscio và Ageron nhấn mạnh dư luận Pháp thờ ơ hơn là phản chiến; theo họ, áp lực không đến từ đường phố mà từ sự mệt mỏi thụ động. Bài này chấp nhận điểm đó: thờ ơ cũng đủ để rút chỗ dựa.
  • Vai trò thật của Việt Minh trong đường dây piastre chưa được định lượng; ủy ban điều tra họp kín và báo cáo 1954 chưa được khai thác đầy đủ. Tertrais là người duy nhất đã vào kho tài chính.
  • Một số tác giả pháp cho rằng rò rỉ Revers do chính Revers tổ chức để đưa Mast lên (Wikipédia, Affaire des fuites); phiên bản khác đổ cho dân biểu PCF André Mercier lấy tài liệu từ cặp của Paul Reynaud (Wikimonde). Nguồn rò rỉ không đổi kết luận của bài.
  • Trọng số của cục diện quân sự mùa xuân 1954 đối với điều khoản Genève là có thật và cố ý bị để ngoài bài này; luận điểm ở đây chỉ là quyết định đàm phán đã có trước.

Bổ sung: các chi tiết ít được nhắc

Những mảnh này không đổi luận điểm nhưng làm hồ sơ đầy hơn; nguồn chính là các trang Wikipedia tiếng Anh về vụ piastre, vụ tướng lĩnh và hội nghị Genève, đối chiếu với FRUS và Tertrais.

  • Người chết vì điều tra. Phóng viên chiến trường François-Jean Armorin sang Đông Dương điều tra vụ piastre, xác định trùm tội phạm người Corse Mathieu Franchini là nhân vật trung tâm của mạng lưới; ông mất tích trên biển trong vụ rơi máy bay Air France DC-4 tháng 6/1950 trên đường Sài Gòn–Paris. Tờ Franc-Tireur in nốt bài dang dở của ông cùng bài của Trèno (Canard enchaîné) cáo buộc Franchini đứng sau vụ rơi; điều tra chính thức không thấy chứng cứ và kết luận lỗi phi công khi hạ cánh ở Bahrain trong thời tiết xấu (Wikipedia, Piastres affair). Le Monde ngày 17/6/1950 đã ghi rằng hai tai nạn 12 và 14/6 làm bùng lại bình luận về buôn piastre.
  • Lính cũng hưởng. Binh sĩ Đoàn quân viễn chinh gửi tiền về Pháp theo tỉ giá chính thức, coi đó là phúc lợi quan trọng cho gia đình, nên các chính phủ kế tiếp ngại phá giá vì sợ sụt tinh thần quân đội (Wikipedia, Piastres affair). Đây là lý do vụ việc kéo dài từ 1950 đến 1953 dù đã bị phát giác.
  • Phe de Gaulle cũng nhận tiền. Kho quân sự mở sau nhiều thập niên, được phim tài liệu Indochine, mort pour la piastre của Fabien Béziat khai thác, cho thấy ngoài giới cơ hội và Việt Minh, các mạng tội phạm có tổ chức và RPF, phong trào của de Gaulle, cũng hưởng tài trợ ngầm từ vụ này (Wikipedia, Piastres affair). Bernard Fall coi buôn piastre là một trong các cơ chế để cá nhân kiếm lời từ thuộc địa dù thuộc địa làm ngân sách Pháp thâm hụt.
  • Báo chí nối hai vụ. Tạp chí L'Express mới ra đời cũng in một phần báo cáo Revers; vụ ẩu đả trên xe buýt dẫn tới việc phát hiện hơn 70 bản sao lưu hành trong cộng đồng người Việt ở Paris (Wikipedia, Generals' affair).
  • Văn hóa ghi lại. Jacques Prévert ám chỉ vụ piastre trong bài thơ Prévert pose une question, in lần đầu 1953 trong tập sách của Sartre về vụ Henri Martin; tiểu thuyết Mort en fraude của Jean Hougron (1953, phim Marcel Camus 1957) và Le Grand Monde của Pierre Lemaitre (2022) đều dựng lại đường dây (Wikipedia, Piastres affair).
  • Raymonde Dien bị tòa án binh kết án ngày 1/6/1950 một năm tù và 15 năm mất quyền công dân; bà là người duy nhất bị truy tố trong cuộc biểu tình (Wikipedia, Raymonde Dien).
  • Con số ở Quốc hội tháng 6–7/1954. Mendès France được bầu với 419 phiếu thuận, 47 chống, 143 trắng; ông giữ luôn Bộ Ngoại giao và Bidault rời hội nghị. Trước đó, ngày 4/6/1954, Laniel ký tắt với Bửu Lộc hai hiệp định sơ bộ công nhận độc lập của Quốc gia Việt Nam trong Liên hiệp Pháp (Wikipedia, 1954 Geneva Conference, Joseph Laniel). Sau Genève, Quốc hội ủng hộ ông 471 phiếu chống 14; dư luận dân tộc chủ nghĩa và Công giáo phản đối, và một làn sóng lăng mạ, phần nhiều bài Do Thái, đổ lên ông (Wikipedia, Pierre Mendès France).
  • Bidault ở Genève. Ông mở phiên 8/5 bằng đề nghị ngừng bắn tại chỗ; Quốc gia Việt Nam chỉ chịu dự khi Bidault viết thư cho Bảo Đại cam kết không chia cắt; chính phủ Mendès France sau đó bỏ cam kết này và đàm phán bí mật với Việt Minh để kịp hạn (Wikipedia, 1954 Geneva Conference). Ba hiệp định đề ngày 20/7 để đúng hạn 30 ngày nhưng thực tế ký sáng 21/7.

Hình ảnh tìm được trên mạng

Đã nhúng 47 ảnh tự do bản quyền vào bài (xem các khối “Ảnh: …” ở cuối mỗi phần và phụ lục cuối bài); phần dưới đây là bản đồ các kho để tra ảnh gốc độ phân giải cao hoặc phim thời sự còn bản quyền. Ảnh gốc tốt nhất nằm ở bốn kho: Gallica (ảnh báo chí Rol/Meurisse và báo minh họa), INA (phim thời sự), ECPAD (phim quân đội) và Getty/Paris Match (phóng sự ảnh). Các ảnh đã hiển thị trong cuộc trò chuyện được liệt kê ở cột cuối để tra lại.

Chủ đề Nơi có ảnh/phim Link Đã hiện trong chat
Tướng Mast và vợ tại nhà riêng, Paris 1/1950; phóng sự Paris Match về vụ Revers Getty Images (Paris Match Archive) Getty 163032248 Chân dung tướng Revers (Bourachot/DZ, Indigo, Musée des Étoiles)
Biểu tình cộng sản trên Canebière, Marseille, 10/1/1950, cảnh sát chặn cảng INA Sudorama (phim câm) INA Tranh Antoine Serra và Boris Taslitzky về đình công cảng Marseille; trang HMTP về PCF và công nhân cảng 1949–50
Raymonde Dien nằm trên đường ray, Tours 23/2/1950; tượng ở Leningrad 1953 WFTU, VUFO, Wikipedia WFTU Ba ảnh Raymonde Dien (báo Pháp và Việt)
Henri Martin: chân dung Picasso, áp phích Libérez Henri Martin Montclair (Furr), Wikipedia Montclair PDF Ảnh lưu trữ PCF về chiến dịch Henri Martin
Bìa và trang trong Le Trafic des piastres, Deux Rives 1953, kèm tài liệu Rao bán sách cũ; bản in lại Verdi — Ba ảnh bìa sách Despuech 1953 và bản in lại
Tiền giấy piastre 1953 (5 piastres Kip, Đồng, Riel) do Institut d'émission phát hành sau khi tách khỏi Ngân hàng Đông Dương Numista, nhà đấu giá Numista forum Ba tờ 5 piastres 1953
Hội nghị Berlin 1954 (Hulton-Deutsch/Corbis/Getty) Universalis Universalis —
Mendès France tại Genève 7/1954; ký kết 21/7 Le Petit Journal, INA Jalons Le Petit Journal Ba ảnh hội nghị Genève và lễ ký
Diễn văn Mendès France 1950 (video), Cao Bằng 1950 (video) INA Jalons qua ECPAD ECPAD parcours —
Bảng thăm dò IFOP gốc 1945–1954, có biểu đồ theo đảng IFOP Collectors n°29 IFOP PDF —
Bài Le Monde 8/5/1953 'Des documents sur le trafic des piastres' và 17/6/1950 Le Monde archives Le Monde 8/5/1953 —

Để lấy ảnh báo chí gốc có thể in: tra Gallica với từ khóa Revers, Mast, Peyré, piastres, Mendès France Genève trong bộ Agence Rol/Meurisse (đến 1937 thì hết) và trong L'Illustration, Paris Match, Le Monde illustré 1949–1954; tra ECPAD tại imagesdefense.gouv.fr với Indochine 1953 và Genève 1954; tra INA với Mendès France investiture 1954.

Nguồn

Sơ cấp

  • Jacques Despuech, Le Trafic des piastres, Paris, Deux Rives, 1953 (in lại Verdi). Nguồn gốc của vụ piastre.
  • Tranh luận Quốc hội: Journal officiel, Débats parlementaires: 22/6/1949 (tr. 3652), 19/10/1950 (tr. 7012–7013), 30/12/1951, 27/10/1953, 9/3/1954, 17–18/6/1954 — toàn bộ trên Gallica.
  • FRUS 1952–1954, vol. XIII part 1 (Indochina): điện Heath và Dillon tháng 10–11/1953, d400, d420–d436, d452 — history.state.gov.
  • FRUS 1952–1954, vol. VII part 1: thông cáo cuối Hội nghị Berlin — d525.
  • Hồ sơ vụ Revers–Mast: báo cáo Wybot (DST) 167 trang 15/4/1950, hồ sơ ủy ban điều tra, brochure Việt Minh Notes sur le rapport du général Revers — FranceArchives.
  • Hồ sơ Bidault 1953–1954, Archives diplomatiques: phiên họp Berlin 26/1–14/2/1954, Genève 2/4–14/5 — inventaire 8QO.
  • IFOP, Ifop Collectors n°29: 1945–1954, La Guerre d'Indochine (5/2014), in lại toàn bộ thăm dò — PDF.
  • Le Monde archives: 17/6/1950, 30/1/1953 (Letourneau), 8/5/1953 — lemonde.fr/archives.
  • Diễn văn nhậm chức Mendès France 17/6/1954 — Clionautes; kết quả bỏ phiếu — Archontology.

Thứ cấp

  • Hugues Tertrais, La piastre et le fusil. Le coût de la guerre d'Indochine 1945–1954, IGPDE/CHEFF, 2002, toàn văn mở — OpenEdition; và bài La direction du Budget et la guerre d'Indochine — OpenEdition.
  • Alain Ruscio, L'opinion française et la guerre d'Indochine (1945–1954). Sondages et témoignages, Vingtième Siècle n°29, 1991 — Persée.
  • Charles-Robert Ageron, L'opinion publique face aux problèmes de l'Union française, trong Les chemins de la décolonisation — CNRS Éditions.
  • Maria Romo-Navarrete, Le gouvernement de Pierre Mendès France, CIHAE 2006 — parlements.org.
  • Les choix de Pierre Mendès France, Relations internationales n°133 — Cairn.
  • Guerre d'Indochine: le monde politique et journalistique français va-t-en guerre, Raison présente 2023/2 — Cairn.
  • L'impact économique et financier des deux guerres d'Indochine, Cahiers de l'IHTP 34, 1996 — Persée.
  • La Guerre secrète n'aura pas lieu! L'armée française face à l'arrivée des Américains, Bulletin Institut Pierre Renouvin 2021/2 — Cairn.
  • Jean-Claude Lahaxe, Les communistes à Marseille à l'apogée de la Guerre froide 1949–1954, PUP (dẫn qua INA).
  • Jean-Paul Sartre, L'Affaire Henri Martin, 1953.
  • Biên niên Mémoires Indochine, tháng 11/1953 — memoiresindochine.fr; biên niên Theatrum Belli 1953–1954 — theatrum-belli.com.
  • Tổng hợp phổ thông đã dùng để kiểm chéo ngày tháng: saigon-vietnam.fr, Wikipédia (Affaire des généraux, Affaire des piastres, Affaire des fuites, Opposition à la guerre), Universalis (Berlin 1954), Institut Pierre Mendès France, Assemblée nationale — Grands discours.

Kho để đi tiếp

  • Archives nationales (Pierrefitte): hồ sơ ủy ban điều tra piastre 1953–1954 và ủy ban vụ tướng lĩnh 1950 (fonds Assemblée nationale, C//…), báo cáo Wybot.
  • Archives économiques et financières (Savigny-le-Temple): Office des changes, Trésor, Banque de l'Indochine — kho Tertrais đã dùng.
  • ANOM (Aix): Haut-commissariat Indochine, Conseiller politique, Affaires économiques 1948–1954.
  • Archives diplomatiques (La Courneuve): Asie-Océanie Indochine, hồ sơ Bidault, Genève 1954.
  • Gallica: Journal officiel, L'Illustration, Paris Match, Le Figaro, L'Humanité 1949–1954.
  • Institut Pierre Mendès France: DPMF-Indochine.
  • Trung tâm Lưu trữ quốc gia II (TP.HCM): Phủ Thủ hiến, Đại hội toàn quốc 10/1953, Ngân khố Quốc gia Việt Nam sau phá giá.

— Bốc Dịch Đại Toàn, Vi Nhật Sơn · bocdichvotranh.com

Đọc tiếp: Các bài lịch sử khác Thư viện nghiên cứu