Bốc Dịch Vô Tranh

Củ Chi qua nguồn ngoại quốc: hồ sơ, báo chí, sử học 1945–1975

Biên soạn ·

Chuyên khảo về các nguồn ngoại quốc viết về Củ Chi 1945–1975: hồ sơ quân sự Mỹ và Úc giải mật, hồ sơ Pháp, báo chí đương thời, nguồn khối XHCN, và sử học…

Củ Chi qua nguồn ngoại quốc Hồ sơ · báo chí · sử học 1945–1975 Mục lục
Chuyên khảo nguồn sử liệu
hồ sơ, báo chí, sử học 1945–1975
Phạm vi1945 – 1975
Mục13 mục · 35 hình
Nguyên tắcMâu thuẫn được giữ nguyên

Về bản trình bày này

Bản này là bản trình bày của một văn bản có sẵn. Toàn bộ chữ của tác giả — từ câu mở đầu đến mục cuối của thư mục — được giữ nguyên, đúng thứ tự, không thêm, không bớt, không sửa một con số nào.

Những gì được thêm vào thuộc về khâu trình bày và được đánh dấu rõ: bảng mục lục, bảng tra hình, số thứ tự mục và tiểu mục, các hình vẽ dữ liệu dựng lại từ chính các bảng và đoạn văn trong văn bản, ảnh tư liệu kèm chú thích và xuất xứ, và phần ghi công ở cuối sách. Mọi chú thích hình đều ghi rõ đang rút từ mục nào.

Ký hiệu [VN→] là của tác giả, đánh dấu “lời kể người Việt qua nguồn ngoại quốc”. Bản này chỉ tô nó cho dễ thấy.

Mục lục

Bảng tra hình

Hồ sơ quân sự Mỹ giải mật là nguồn ngoại quốc dày nhất và chính xác nhất về Củ Chi 1966–1970: khoảng 50 bản Operational Report – Lessons Learned (ORLL), Combat Operations After Action Report (COAAR) và Senior Officer Debriefing Report của Sư đoàn 25 Bộ binh Mỹ nằm trên DTIC dưới số AD, kèm tờ báo sư đoàn Tropic Lightning News in hằng tuần tại căn cứ Củ Chi từ 4/3/1966. Các nguồn này ghi toạ độ, đơn vị, số địa đạo phá, số đạn bắn, và cho thấy số đo thời chiến về địa đạo rất khiêm tốn: "khoảng tám dặm" (Deepe, 3/1966), "hơn 400 địa đạo" trong chu vi căn cứ (TLN 7/1966), "hơn 8 km" ở rừng Hố Bò (TLN 10/1967). Con số 150–250 km chỉ xuất hiện sau 1977, từ hướng dẫn viên và cựu cán bộ Việt Nam qua AP và BBC. Hồ sơ Úc (AWM95, 1 RAR, 3 Field Troop) là nguồn ngoại quốc duy nhất về Operation Crimp 1/1966 có nhật ký đơn vị số hoá miễn phí. Nguồn Pháp 1945–1954 chỉ xác nhận các cuộc hành quân mang tên Cuchi (1954), Hocmon (1951), Boi Loi (1952), An Nhon Tay (1949) trong sous-série GR 10 H ở Vincennes, cộng với tư liệu đồn điền Bến Mương (= đồn điền Filhol) và một trận phục kích chết người ngày 24/3/1954; chưa tìm được bất kỳ văn bản Pháp nào mô tả "souterrains" ở Củ Chi trước 1954. Bình định Hậu Nghĩa 1962–1972 có chuỗi nhân chứng Mỹ liên tục: FRUS 1962, Helms/Colby 1964, thư Vann từ Bàu Trai 1965, bản ghi Ellsberg 10/1965, CIA sau Tết 1968 ("Củ Chi là quận bị đánh nặng nhất"), bản debrief Bartlett 1972. Phía khối XHCN và thân Mặt trận, chỉ Wilfred Burchett được nhiều nguồn xác nhận đã vào địa đạo Củ Chi (1963–1964), và Marta Rojas (Cuba) ở 54 ngày đêm tại căn cứ COSVN ở Tây Ninh năm 1965 — đúng lộ trình mà từ đó Burchett đi nhánh về Củ Chi. Hai đính chính đáng ghi: phim Вьетнам của Roman Karmen là phim 1954 về chiến tranh chống Pháp, không liên quan Củ Chi; và loạt phim Vietnam của Heynowski & Scheumann (Đông Đức) đều là hậu chiến 1976–1977, trong đó "Die eiserne Festung" KHÔNG phải Tam giác Sắt mà là tây nam Việt Nam sau 4/1975. Báo Pravda, Neues Deutschland, Granma, Nhân dân Nhật báo vẫn chưa tra được vì các kho hoặc chặn bot, hoặc đòi đăng nhập, hoặc chỉ là ảnh trang không chỉ mục. Mọi con số mâu thuẫn (địa đạo, Crimp, Cedar Falls, trận 26/2/1969, kích thước hầm, câu "bị ném bom nhiều nhất lịch sử") được giữ nguyên trong mục 11, không hoà giải.

Mở đầu

Tóm tắt điều hành

Nguồn không do người Việt viết về Củ Chi 1945–1975 chia thành bảy lớp có độ tin cậy và độ truy cập rất khác nhau.

Lớp một, hồ sơ quân sự Mỹ giải mật, là xương sống. Sư đoàn 25 "Tropic Lightning" đặt bộ tư lệnh tại Củ Chi từ 1/1966 đến 12/1970 và để lại ORLL hằng quý, COAAR cho từng chiến dịch (Crimp, Circle Pines, Wahiawa, Cedar Falls, Manhattan, Kolekole, Barking Sands, Saratoga, Toàn Thắng), báo cáo bàn giao Keystone Robin Bravo 15/12/1970, và tờ Tropic Lightning News. Phần lớn có bản PDF miễn phí trên DTIC và bản OCR trên archive.org (archive.org DTIC mirror). Các báo cáo này ghi số địa đạo phá theo quý (521 trong khu vực Sư đoàn 25 ở Cedar Falls; 855 trong Barking Sands; 658 trong vòng vây Phú Hoà Đông 1969), diện tích rừng bị ủi (9.645 mẫu Anh Hố Bò đến cuối 10/1967; 22.977 mẫu Anh Bời Lời–Trapezoid–Citadel quý 11/1968–1/1969), và tổn thất Mỹ theo quý (đỉnh 520 chết / 1.641 bị thương quý 2–4/1968).

Lớp hai, sử chính thức Mỹ (CMH: Carland 2000, MacGarrigle 1998, Villard 2017, Rogers 1974, Traas 2010), có bản PDF miễn phí qua GovInfo nhưng phần lớn bị chặn đối với phiên khảo sát này; nội dung được biết qua trích dẫn gián tiếp.

Lớp ba, nguồn Úc, tập trung gần như toàn bộ vào Operation Crimp 8–14/1/1966: nhật ký chỉ huy AWM95 7/1 (1 RAR) và 4/1 (3 Field Troop) số hoá miễn phí, hiện vật và phỏng vấn phim 1992 của MacGregor, sử chính thức McNeill 1993, và nghiên cứu đơn vị McAulay 2005.

Lớp bốn, nguồn Pháp và châu Âu lục địa, mỏng nhất: mục lục GR 10 H ở SHD Vincennes, biên khảo đồn điền trên entreprises-coloniales.fr, hồi ký Pagniez 1951, và không có một bài báo châu Âu 1965–1975 nào được kiểm chứng (Le Monde, Spiegel, RetroNews đều bị chặn).

Lớp năm, báo chí phương Tây đương thời, xuất hiện ở các thời điểm "đinh": NYT 10–11/1/1966 (Crimp), Time 17/6/1966, Schell trên The New Yorker 15/7/1967 (Bến Súc), Tomalin trên The Times 27/2/1969, Newsweek 10/3/1969, Faas và Arnett (AP) 10/1977. Con số địa đạo trong báo chí thời chiến dừng ở hàng đơn vị dặm.

Lớp sáu, khối XHCN và phóng viên thân Mặt trận: Burchett (Úc) là người duy nhất được chứng thực đã ở trong địa đạo Củ Chi; Riffaud (Pháp) đi cùng ông 11/1964–1/1965 nhưng không nguồn nào đặt bà ở Củ Chi bằng tên; các nhiếp ảnh gia Nhật (Okamura, Honda, Ishikawa, Sawada) làm việc từ phía Mỹ–VNCH. Marta Rojas (Cuba) ở 54 ngày trong căn cứ COSVN Tây Ninh 1965 là người ngoại quốc thứ hai được chứng thực ở trong vùng chỉ huy Mặt trận sát Sài Gòn; Pravda, Neues Deutschland, Granma, Nhân dân Nhật báo vẫn chưa tra được (chặn bot, đòi đăng nhập, hoặc không có chỉ mục toàn văn). Phim Du Kích Củ Chi (Xưởng phim Giải phóng, 1967, 20′51″) do BFI giữ bản quyền, số hiệu N-507265 — phim duy nhất trong mọi kho khảo sát được có Củ Chi trong nhan đề.

Lớp bảy, sử học và hồi ký sau 1975: Mangold & Penycate 1985 là nguồn của hầu hết các con số "200 dặm" và câu "bị ném bom nhiều nhất lịch sử", dựa trên phỏng vấn 1978–1984 hai phía; Bergerud 1991 và 1993 là chuyên khảo học thuật về Hậu Nghĩa và Sư đoàn 25; Rottman 2006/2012 cung cấp chi tiết kỹ thuật; khoảng 30 hồi ký cựu binh Sư đoàn 25 được liệt kê nhưng chưa đọc được.

BẢY LỚP NGUỒN NGOẠI QUỐC VỀ CỦ CHI 1945–1975Bề rộng thanh biểu thị khối lượng tài liệu tương đối theo mô tả trong mục 1; không phải số đo.KHỐI LƯỢNG VÀ ĐỘ TRUY CẬPĐÁNH GIÁ TRONG VĂN BẢNLớp 1Hồ sơ quân sự Mỹ giải mậtORLL hằng quý, COAAR từng chiến dịch,Senior Officer Debriefing, TropicLightning NewsHồ sơ quân sự Mỹ giải mật — xương sốngPDF miễn phí trên DTIC; bản OCR trên archive.orgxương sốngLớp 2Sử chính thức Mỹ (CMH)Carland 2000, MacGarrigle 1998,Villard 2017, Rogers 1974, Traas 2010Sử chính thức Mỹ (CMH) — biết qua trích dẫn gián tiếpPDF miễn phí qua GovInfo nhưng phần lớn bị chặnbiết qua trích dẫn gián tiếpLớp 3Nguồn ÚcAWM95 7/1 (1 RAR) và 4/1 (3 FieldTroop); McNeill 1993; McAulay 2005;phim 1992Nguồn Úc — gần như toàn bộ về Operation Crimpnhật ký đơn vị số hoá miễn phígần như toàn bộ về OperationCrimpLớp 4Nguồn Pháp và châu Âu lục địamục lục GR 10 H (SHD Vincennes),entreprises-coloniales.fr, Pagniez1951Nguồn Pháp và châu Âu lục địa — mỏng nhấtmục lục trực tuyến; cartons chỉ đọc tại chỗmỏng nhấtLớp 5Báo chí phương Tây đương thờiNYT 1/1966, Time 6/1966, Schell7/1967, Tomalin 2/1969, Faas–Arnett10/1977Báo chí phương Tây đương thời — xuất hiện ở các thời điểm “đinh”phần lớn sau tường phí hoặc bị chặnxuất hiện ở các thời điểm“đinh”Lớp 6Khối XHCN và phóng viên thân Mặt trậnBurchett; Riffaud; nhiếp ảnh gia Nhật;Pravda, Neues Deutschland, Granma,XinhuaKhối XHCN và phóng viên thân Mặt trận — chỉ Burchett được chứng thực trong địa đạohầu như chưa khảochỉ Burchett được chứng thựctrong địa đạoLớp 7Sử học và hồi ký sau 1975Mangold & Penycate 1985; Bergerud1991, 1993; Rottman 2006/2012; ~30 hồiký cựu binhSử học và hồi ký sau 1975 — nguồn của hầu hết các con số “200 dặm”cho mượn có kiểm soát; phần lớn chưa đọcnguồn của hầu hết các con số“200 dặm”Nguồn: mục 1 “Tóm tắt điều hành”.
Hình 1 Bảy lớp nguồn ngoại quốc, theo khối lượng tài liệu và độ truy cập.Dựng theo mục 1.

Ba kết luận phương pháp. Một, số liệu địa đạo thời chiến (ngoại quốc, do công binh đo) và số liệu sau chiến tranh (lời kể người Việt qua nguồn ngoại quốc) không cùng đơn vị đo và không nên hoà giải. Hai, "lời kể người Việt qua nguồn ngoại quốc" chiếm tỉ trọng lớn trong văn liệu sau 1975 (Mangold & Penycate, Faas 1977, WGBH 1981, Grant 1991, Nhân Dân về Burchett) và cần được gắn cờ. Ba, phần lớn khối tài liệu gốc có thể đọc miễn phí từ Việt Nam qua archive.org, DTIC, AWM, LOC và GovInfo trước khi cần đến NARA hay Vincennes.

Hai việc đáng làm nhất tiếp theo, cả hai đều rẻ. Một, xin scan liên thư viện ~70 trang lời khai Tuck, Martinsen và Duncan trong bản in Against the Crime of Silence (Duffett 1968) — Tuck phục vụ ở Sư đoàn 25 đóng tại Củ Chi, và hiện dự án chỉ biết lời khai này qua bản thuật lại của Burchett, trong khi sách nằm trên giá ở ít nhất bốn thư viện. Hai, tải toàn bộ Peking Review 1965–1973 từ massline.org và grep tại máy cho `Cu Chi`, `Saigon-Gia Dinh`, `Iron Triangle`, `Hau Nghia`, `25th Division` — miễn phí, và kiểm được đồng thời năm ấn bản ngôn ngữ.

Mục 1

Phạm vi và cách chọn nguồn

Tài liệu gom mọi nguồn không do người Việt viết về Củ Chi giai đoạn 1945–1975, trọng tâm 1961–1972.

PHẠM VI: CÁI GÌ VÀO, CÁI GÌ RA“Tài liệu gom mọi nguồn không do người Việt viết về Củ Chi giai đoạn 1945–1975, trọng tâm 1961–1972.”GIỮ LẠIHồ sơ quân sự Mỹ–Úc giảimật và sử chính thứcBáo chí, nhiếp ảnh, truyềnhình phương Tây đương thờiPhóng viên khối XHCN vàthân Mặt trận từng vào vùnggiải phóngHồ sơ Pháp 1945–1954Sử học thuật, hồi ký cựubinh, phim tài liệu nướcngoài sau 1975LOẠI RASử Quân đội Nhân dânHồi ký Mặt trậnHồ sơ và hồi ký Việt NamCộng hoàHồi ký người Việt hải ngoạiNGUỒN LAISách nước ngoài phỏng vấnngười ViệtMangold–Penycate, RANDPhần lời kể của người Việtđược ghi rõ là lời kểCÁCH GHIMỗi nguồn ghi tác giả, quốc tịch, năm, nơi lưu, đường dẫn, và điều nguồn đó nói về Củ Chi.Số liệu khác nhau giữa các nguồn giữ nguyên, không hoà giải; phần Số liệu và tranh luận đối chiếu.
Hình 2 Phạm vi của tài liệu: nguồn nào được giữ, nguồn nào bị loại, và nguồn lai được xử lý thế nào.Dựng theo mục 1.
  • Loại ra: tác phẩm của người Việt cả hai phía — sử Quân đội Nhân dân, hồi ký Mặt trận, hồ sơ và hồi ký Việt Nam Cộng hòa, hồi ký người Việt hải ngoại.
  • Giữ lại: hồ sơ quân sự Mỹ–Úc giải mật và sử chính thức; báo chí, nhiếp ảnh, truyền hình phương Tây đương thời; phóng viên khối XHCN và thân Mặt trận từng vào vùng giải phóng; hồ sơ Pháp 1945–1954; sử học thuật, hồi ký cựu binh, phim tài liệu nước ngoài sau 1975.
  • Nguồn lai: sách nước ngoài phỏng vấn người Việt (Mangold–Penycate, RAND) vẫn được giữ; phần lời kể của người Việt được ghi rõ là lời kể.
  • Cách ghi: mỗi nguồn ghi tác giả, quốc tịch, năm, nơi lưu, đường dẫn, và điều nguồn đó nói về Củ Chi. Số liệu khác nhau giữa các nguồn giữ nguyên, không hòa giải; phần Số liệu và tranh luận đối chiếu.
  • Địa danh: viết theo nguồn gốc kèm tên Việt: Ho Bo Woods = rừng Hố Bò; Boi Loi Woods = rừng Bời Lời; Iron Triangle = Tam giác Sắt; Filhol (Fil Hol) Plantation = đồn điền cao su Filhol gần Phú Hòa Đông; Hau Nghia = Hậu Nghĩa; Bao Trai = Bàu Trai (tỉnh lỵ Hậu Nghĩa).
Mục 2

Địa lý–hành chính Củ Chi trong nhãn quan ngoại quốc

SƠ ĐỒ ĐỊNH HƯỚNG: QUẬN CỦ CHI VÀ VÙNG PHỤ CẬNDựng theo các địa danh và quan hệ vị trí nêu trong mục 2. Sơ đồ khái lược, không theo tỉ lệ.sông Sài GònRỪNG HỐ BÒ“khu bất khả xâm phạm 30 năm tuổi”13.000 mẫu Anh · mục tiêu Crimp XT 630270RỪNG BỜI LỜI25 km tây bắc Củ ChiSherwood Forest 1/1965ĐỒN ĐIỀN FILHOL= đồn điền Bến MươngXT676165 · lập 1916TAM GIÁC SẮT~300–310 km²tỉnh Bình DươngQuốc lộ 1 — Sài Gòn ↔ Tây Ninhqua Hóc Môn và Củ ChiRoute provinciale n° 15Hóc Môn → Bến SúcCĂN CỨ CỦ CHIXT647153 · 10°59′15″N 106°30′45″E · <2 dặm vuôngthị trấn Củ Chichi khu · Tết 1968Phú Hoà Đông5 km đông bắc căn cứTrung LậpXT5921 · FSB PattonTrảng BàngAn Nhơn Tâyđồn điền BenduẤp Chợ / Tân Phú Trungtrận Tết 1968 trên QL1Bến Súcbờ sông Sài GònBàu Trai / Khiêm Cườngtỉnh lỵ Hậu NghĩaĐức HoàĐức HuệBắc Hà Icách hàng rào 200 yardSÀI GÒN“20 dặm tây bắc” (TLN)BCHÚ GIẢIrừng / khu căn cứđồn điền cao suTam giác Sắtđường bộsông Sài GònNguồn địa danh: bảng đối chiếu trong mục 2.
Hình 3 Sơ đồ định hướng quận Củ Chi và vùng phụ cận, dựng theo bảng đối chiếu địa danh của mục 2.Sơ đồ khái lược, không theo tỉ lệ.

Tỉnh Hậu Nghĩa và quận Củ Chi

Nguồn Mỹ thống nhất rằng tỉnh Hậu Nghĩa (Hau Nghia) được lập ngày 15/10/1963 từ đất của Long An, Bình Dương và Tây Ninh, gồm bốn quận Củ Chi, Đức Hoà, Đức Huệ, Trảng Bàng, tỉnh lỵ Khiêm Cường mà người Mỹ gọi là Bàu Trai (Bao Trai); tỉnh giải thể tháng 2/1976, Củ Chi về TP Hồ Chí Minh (Wikipedia: Hậu Nghĩa province, dẫn Bergerud 1991 và Stanton 2003). Phóng viên Beverly Deepe (New York Herald Tribune, 24/5/1964) mô tả Hậu Nghĩa là tỉnh cuối cùng Diệm lập trước khi đổ, "để đáp lại hoạt động VC gia tăng" (UNL Keever item 10942). Harkins điện cho Taylor đầu 11/1963 rằng ông vừa thăm "Hau Nhgia" [sic] trong hai tuần trước, một trong những tham chiếu chính thức Mỹ sớm nhất về tỉnh này (FRUS 1961–63 vol. IV doc. 246).

Trước 10/1963, Củ Chi thuộc Bình Dương: thư Heavner 3/1962 ghi "Cu Chi (then in Binh Duong province)" (FRUS 1961–63 vol. II doc. 116). Thời Pháp, cùng vùng đất thuộc tỉnh Gia Định, các tổng Long Tuy Trung, Long Tuy Thượng, Phú Hoà Đông; về quân sự thuộc Forces terrestres du Sud-Vietnam, zone centre, secteur de Hoc Mon, hai bên là secteur de Tay Ninh và secteur de Thudaumot (SHD 10H Tome II).

Vann viết tháng 4/1965 rằng Hậu Nghĩa là "tỉnh mới nhất và kém an ninh nhất", 85% diện tích không thể đến bằng đường bộ, chính quyền chỉ hiện diện ở bốn quận lỵ (Trảng Bàng, Củ Chi, Đức Hoà, Hiệp Hoà) và tỉnh lỵ Bàu Trai, một ấp cũ của VC chừng 1.500 dân (Vann to Vince 25/4/1965, OCR archive.org).

Dân số

Các con số dân số tỉnh Hậu Nghĩa trong nguồn Mỹ: Ellsberg 10/1965 ghi 220.000–226.000 (bảng chính thức 226.113; văn bản 223.000; điều tra có thể 260.000) (Ellsberg memo OCR); TLN 16/9/1966 ghi "khoảng 230.000" (TLN 1-30); bảng CIA/HES 31/10/1967 ghi 202.920 người trên 474 dặm vuông (CIA HES table). Chênh lệch 20.000 trong hai năm khớp với ghi chú của Vann 5/1965 về dân số giảm ròng và dispatch của Deepe rằng tỉnh còn rất ít thanh niên. Phú Hoà Đông được bác sĩ Lando (Sư đoàn 25) ước 9.000 dân "trong đó khoảng 4.000 là Việt Cộng" (TLN 20/1/1967) và có "hơn 850 gia đình" bị di dời cuối 1967 (TLN 2-03; TLN 2-51).

DÂN SỐ TỈNH HẬU NGHĨA THEO BA NGUỒN MỸChênh lệch khoảng 20.000 trong hai năm; mục 2 gắn nó với ghi chú của Vann về dân số giảm ròng.200.000210.000220.000230.000240.000Ellsberg — bảng chính thức10/1965Ellsberg — bảng chính thức · bảng chính thức 226.113; văn bản 223.000; điều tra có thể 260.000226.113bảng chính thức 226.113; văn bản 223.000; điều tra có thể 260.000Tropic Lightning News9/1966Tropic Lightning News · “khoảng 230.000”230.000“khoảng 230.000”CIA / HES31/10/1967CIA / HES · 202.920 người trên 474 dặm vuông202.920202.920 người trên 474 dặm vuôngNguồn: Ellsberg memo 10/1965; TLN 16/9/1966; bảng CIA/HES 31/10/1967 — mục 2 “Dân số”.
Hình 4 Dân số tỉnh Hậu Nghĩa theo ba nguồn Mỹ, 1965–1967.Dựng theo mục 2.

Các địa danh quân sự Mỹ–Úc và tên Việt

Tên trong nguồn ngoại quốcTên ViệtGhi chú nguồn
Cu Chi Base Camp, XT647153 (ORLL 4/1968), XT647143 (Div Arty)căn cứ Củ Chi10°59′15″N 106°30′45″E, cao 12 m, đường băng 04/22 dài 2.900 ft (Wikipedia dẫn Kelley 2002, Stanton 2003); toạ độ ORLL (DTIC AD0392127)
Ho Bo Woodsrừng Hố Bò173rd Abn Bde xếp vào Bình Dương, tây Tam giác Sắt; mục tiêu Crimp tại XT 630270 (DTIC AD0388134 OCR); TLN 1967 gọi là "khu bất khả xâm phạm 30 năm tuổi" rộng 13.000 mẫu Anh (TLN 2-42; TLN 2-51)
Boi Loi Woodsrừng Bời Lời25 km tây bắc Củ Chi; Sherwood Forest 1/1965 (Wikipedia: Boi Loi Woods, dẫn Kelley 2002, Birtle 2024)
Filhol Plantation, XT676165 / "Filhol – Liocara – Balancie Plantation (XT 6720)"đồn điền Filhol = đồn điền Bến Mươngđịnh danh Pháp: Société des plantations de Bên-Muong, xã Phú Hoà Đông, lập 1916 bởi Balencie và Comte (entreprises-coloniales.fr Ben-Muong; 1/5 Mech AAR Kipapa)
Iron TriangleTam giác Sắt~300–310 km², Bình Dương; TLN gọi "60 dặm vuông, 25 năm tuổi" (Wikipedia: Iron Triangle); TLN 2-03)
Trung Lap, XT5921Trung Lậplàng + Trung tâm huấn luyện Biệt động quân VNCH; FSB Patton; cách Hố Bò dưới 1.000 m (DTIC AD0504136; TLN 2-51)
Phu Hoa DongPhú Hoà Đông5 km đông bắc căn cứ, mép đông Filhol; Akimu 7/1967; vòng vây 2–3/1969 (DTIC AD0504136; TLN 4-11)
Ap Cho / Tan Phu TrungẤp Chợ / Tân Phú Trungtrận Tết 1968 trên QL1 (TLN 3-09)
Bao Trai / Khiem CuongBàu Trai / Khiêm Cườngtỉnh lỵ Hậu Nghĩa
Hau NghiaHậu Nghĩatỉnh
"the Citadel", "the Trapezoid"— (biệt danh Mỹ)vùng bắc Trảng Bàng–Trung Lập và vùng giữa sông Sài Gòn–Bời Lời (DTIC AD0502976)
Bac Ha IBắc Hà Ilàng Công giáo di cư cách hàng rào căn cứ 200 yard (TLN 1-30)
Ben SucBến SúcBình Dương, bờ sông Sài Gòn đối diện Củ Chi

Nguồn Pháp cho thêm lớp địa lý kinh tế: Bến Mương cách Sài Gòn 45 km, cách Củ Chi 7 km, đi theo Route coloniale no 1 rồi chemin communal 1 và 4; đồn điền Bendu ở An Nhơn Tây nằm trên "Route provinciale no 15, de Hôcmôn à Bênsuc", con đường sau này viền Tam giác Sắt (entreprises-coloniales.fr Bendu). Nhà nông học Paul Morange năm 1910 xếp vành đai đất xám Gia Định quanh Củ Chi là "đất cát, chất lượng xoàng" (Morange 1910); Mangold & Penycate tả đất Củ Chi "mềm như đường" mùa mưa và đủ cứng để chịu xe tăng mùa khô (The Funambulist 2012); bộ slide kỹ thuật địa chất Missouri S&T (từ Mangold & Penycate) mô tả laterit gắn kết bằng oxit sắt, tầng đào được dày 10–20 m (Almodovar & Rogers).

Bản đồ

Bản đồ 1:50.000 Series L7014 của Lục quân Mỹ phủ Củ Chi bằng các mảnh thuộc ô 6330 (IV = thị trấn/căn cứ/Filhol), 6230 (I = Trảng Bàng/Đức Hoà), 6331 và 6231 (Hố Bò, Bời Lời, Dầu Tiếng); tên mảnh chính xác chưa đối chiếu vì trang chỉ mục UT PCL bị chặn; mảnh mẫu "Can Giuoc 6330-3" có ở TTU (TTU map 608875); ANU Open Research và UC Berkeley cũng giữ mảnh L7014 (ANU; Berkeley). Bản đồ đường bộ Nam Kỳ 1906 của G. Butteux (Gallica ark btv1b530607462) cho tuyến Sài Gòn–Tây Ninh qua Hóc Môn và Củ Chi trước chiến tranh (BnF France-Vietnam, Cochinchine). Ảnh vệ tinh CORONA/KH-7/KH-9 1960–1972 phủ 10°50′–11°10′N 106°20′–106°40′E có thể duyệt miễn phí trên USGS EarthExplorer (USGS EROS).

Bản đồ chính thức của Lục quân Mỹ về Tam giác Sắt trong Operation Cedar Falls, 4–24/1/1967. Thị trấn Củ Chi nằm ở mép dưới, Trảng Bàng phía tây, Bến Súc trên bờ sông Sài Gòn — đúng
Hình 5 Bản đồ chính thức của Lục quân Mỹ về Tam giác Sắt trong Operation Cedar Falls, 4–24/1/1967. Thị trấn Củ Chi nằm ở mép dưới, Trảng Bàng phía tây, Bến Súc trên bờ sông Sài Gòn — đúng các địa danh mà mục 2 và mục 5 dùng.Wikimedia Commons · Department of the Army · Public domain
Mục 3

Gốc địa đạo 1945–1954 trong nguồn Pháp và phương Tây

Nguồn Pháp: không có mô tả "souterrains", chỉ có tên hành quân

Phiên khảo sát không tìm được một văn bản Pháp nào (mục lục quân sự, báo chí thuộc địa, hồi ký 1951, danh sách chủ đồn điền tử nạn 1954) mô tả công trình ngầm ở Củ Chi hay Phú Mỹ Hưng trước 1954. Mục lục GR 10 H Tome II (1987) không có mục "souterrains", "galeries", "tunnels" hay "caches" trong sommaire; thuật ngữ kiểu căn cứ duy nhất được lập chỉ mục là "CK" (kho/căn cứ Việt Minh) trong một chú thích về Trung Việt (SHD 10H Tome II).

Cái mà SHD chứng minh được là Pháp đã hành quân có tên tại đúng vùng này. Notice "Sud-Vietnam : dossiers concernant les opérations classés dans l'ordre alphabétique" (1945–1953, Vincennes, thuộc GR 10 H) liệt kê hơn một nghìn hành quân, trong đó liên quan trực tiếp hành lang Củ Chi: Duc Hoa (1945), Govap (1945), Ap la Bau (1948), "An Nhou Tay" (1949) [= An Nhơn Tây], Ba Queo (1949), Tan Binh (1950), Convoi de Dautieng (1950), Hocmon (1951), "Trang Bon" (1951) [có lẽ = Trảng Bàng], Boi Loi (1952), Hévéas (1952), Michelin (1952), Triangle (1952), Dautieng (1952), Ben Cau (1953), "Tay Nink" (1953), Vinh-An (1953), Cuchi (1954), Thu Dau Mot (1954) (SHD notice ark/1102982). Không có dossier tên Phu My Hung, Phu Hoa Dong, Trung Lap, Nhuan Duc, Ben Suc; vắng tên không có nghĩa là vắng hành quân, vì nhiều dossier mang mật danh.

Đồn điền Pháp và áp lực Việt Minh 1947–1954

Biên khảo trên entreprises-coloniales.fr (tổng hợp từ báo Gallica và annuaire) cho ba sự kiện có niên đại: đêm 16–17/2/1947 khoảng một trăm "rebelles" tấn công đồn điền Guyonnet (Gia Định; Guyonnet có đất ở Phú Mỹ và Vĩnh Cư trên đường Tây Ninh, 34–38 km từ Sài Gòn), hai người phòng thủ và nhiều công nhân chết, nhà cửa bị đốt, theo Le Journal de Saïgon 28/2/1947 (Alban Guyonnet); ngày 8/3/1947 "Mme et M. Filhol et 2 enfants" lên tàu Maréchal-Joffre đi Marseille (Pierre Filhol); năm 1951 Yvonne Pagniez (Français d'Indochine, Flammarion 1951, tr. 134) tả quản lý Bettray, cựu sĩ quan 2e DB, chia sẻ bungalow với "chef du poste" trong khung cảnh "opérations militaires et activités agricoles", tức một đồn Pháp đóng ngay trên đồn điền Bến Mương; và ngày 24/3/1954 chủ đồn điền Erdody "tué dans une embuscade V.M." tại "Xe-BengMuong Cu-Chi" theo danh sách "97 planteurs tués en Indochine de 1940 à 1978" (Plantations Ben-Muong). Gia đình Filhol: François Filhol (1874–1936) lập đồn điền Vinh-Phuoc 1910 (1.000 ha năm 1926, bưu điện Củ Chi cách 1,2 km) và Nhuan-Duc/Phu-Duc 1918; Pierre Filhol (1909–2003) điều hành Bến Mương từ giữa thập niên 1930 (Plantation Vinh-Phuoc). Con số 1.012 ha kê khai năm 1941 (so với ~300 ha 1931–1933) gợi ý hợp nhất các đồn điền Filhol dưới công ty Bến Mương, giải thích vì sao toàn khối đông bắc thị trấn Củ Chi thành "the Filhol" trong bản đồ Mỹ.

Suy luận từ các nguồn này: áp lực Việt Minh liên tục lên đúng những làng sau này nổi tiếng về địa đạo (Phú Hoà Đông, Vĩnh Cư/Tân An Hội, An Nhơn Tây) từ 1947 đến 1954 phù hợp với, nhưng không chứng minh, việc đào hầm trước 1954 trong nguồn Pháp.

Nguồn Mỹ–Úc về tuổi của địa đạo

Tài liệu USARV Battlefield Reports: A Summary of Lessons Learned, Vol. II (quý 10–12/1965, ngay trước Crimp) ghi bài học của Sư đoàn 1 Bộ binh rằng địa đạo VC có tới ba tầng và "có từ 1954" (DTIC AD0831179). Lex McAulay, thông dịch viên 1 RAR tại Crimp, viết rằng một số đoạn hầm cũ đến mức rêu mọc trên vách (McAulay, HistoryNet). Một tin điện ngày 4/7/1963 (hãng không rõ) tả "mê cung địa đạo" phát hiện tình cờ cách Sài Gòn 25 dặm tây bắc, hầm liên lạc và kho dài ít nhất 15 dặm, giới chức Mỹ cho rằng cần ít nhất tám năm để xây (RealTime1960s); tức địa đạo vùng Củ Chi đã có trong tin điện phương Tây hai năm rưỡi trước Crimp. Thuyết minh AWM và DVA về Crimp không quy bất kỳ phần nào của hệ thống cho thời Pháp (AWM REL35994.002; DVA Anzac Portal). TLN 10/1967 gọi Hố Bò là "khu bất khả xâm phạm VC 30 năm tuổi" (TLN 2-42). Một cựu binh Mỹ (Krause) nói hầm "tôi nghĩ là còn lại từ thời Pháp", tự nhận là phỏng đoán (charliecompany.org).

Các mốc "1946–1948" trong nguồn phổ thông phương Tây

Các mốc khởi đào trong nguồn tham khảo phương Tây đều không có chú thích: Fodor's "bắt đầu 1948 để chống Pháp" (Fodor's); HISTORY.com "cuối thập niên 1940" (HISTORY.com); showcaves.com "đào lần đầu 1948, xây dựng tiếp 25 năm, 250 km" (showcaves); Planet Wissen (SWR, 2004/2020) ghi thập niên 1930 "để giấu vũ khí khỏi quân chiếm đóng Pháp", một niên đại trái với mọi nguồn khác (Planet Wissen); Lepetitjournal HCM 18/5/2025 ghi 1946–1948 tại Phước Vĩnh An và Tân Phú Trung nhưng chỉ dẫn trang du lịch Việt Nam (Lepetitjournal). Hồ sơ đề cử UNESCO (15/7/2026, do Việt Nam soạn, UNESCO lưu) nói đào từ 1946 ở Tân Phú Trung và Phước Vĩnh Ninh, nối thành ~17 km năm 1947, mở rộng chính 1961–1965 ở sáu xã phía bắc (UNESCO tentative list 7038) — lời kể người Việt qua nguồn ngoại quốc. Chuỗi "48 km thời Pháp lên ~200 km năm 1965" là lời một sĩ quan cộng sản cao cấp qua Mangold & Penycate, được VVMF nhắc lại (VVMF EP53) — lời kể người Việt qua nguồn ngoại quốc. Chương về gốc thời Pháp trong Mangold & Penycate (được cho là đặt mốc ~1948 tại Phú Mỹ Hưng) chưa đọc được.

Điều chưa kiểm chứng

Các cartons GR 10 H cho secteur de Hoc Mon và secteur de Tay Ninh (10 H 4651–5573), JMO Sud-Vietnam (10 H 5938–5958), các dossier hành quân Cuchi 1954 / Hocmon 1951 / Boi Loi 1952 / An Nhou Tay 1949 chưa được đọc; bản PDF mục lục bị cắt ở 10 H 3656 và các mirror francearchives.fr bị chặn. ANOM (Aix-en-Provence) chưa tiếp cận được. Bodard, Lacouture, Devillers, Fall, Chaliand chưa được tra đoạn nào nêu Củ Chi. Bản dịch Pháp Les tunnels de Cu Chi : l'incroyable histoire de la guerre souterraine au Vietnam (Albin Michel 1986, EAN 9782226025944) tồn tại nhưng tác giả không ghi trong listing; nhiều khả năng là Mangold & Penycate (librosmelior).

Mục 4

1955–1965: ấp chiến lược, tỉnh Hậu Nghĩa, cố vấn Mỹ, RAND, báo chí

Người nghiên cứu phần bình định Hậu Nghĩa bị cắt giữa chừng; mục này dựng lại từ các ghi chú còn lại (FRUS, thư Vann, bản ghi Ellsberg, CIA, Deepe, RAND/Simulmatics, Komer). Mọi khoảng trống được nêu rõ ở cuối mục.

Ấp chiến lược ở Củ Chi, 1962

Thư của Theodore Heavner (Officer in Charge of Vietnam Affairs) gửi Ben Wood, tháng 3/1962, báo cáo điều tra xây ấp chiến lược: tại Củ Chi (khi đó thuộc Bình Dương) dân phu được hứa 10 đồng/ngày nhưng không nhận được tiền lẫn gạo, có người làm 49 ngày liên tục, nhiều người sẽ không vào ở ấp nên không được gì, việc xây cắt vào vụ thuốc lá thứ hai gây khó khăn kinh tế thật sự, dân chỉ được báo trước một tuần; đoàn điều tra xem các bất bình là chính đáng và đề nghị trả công hoặc thuê xe ủi. Cùng thư: ấp chiến lược cải thiện an ninh, nhưng chính phủ lặp lại sai lầm thời agroville (FRUS 1961–63 vol. II doc. 116). Đây là văn bản Mỹ sớm nhất có tên Củ Chi trong khối ghi chú.

1963–1964: tỉnh mới, chương trình ấp sụp

Harkins (MAC 2033, đầu 11/1963) nói tỉnh trưởng và cố vấn khu vực, kể cả ở Hậu Nghĩa, không chia sẻ bi quan của Phó Tổng thống Thơ (FRUS 1961–63 vol. IV doc. 246). Ba tháng sau, bản ghi nhớ CIA (Helms, Colby ký, Tổng thống đọc 18/2/1964) ghi: sau đảo chính 1/11/1963 chương trình ấp chiến lược gần như dừng; ở Hậu Nghĩa tỉnh trưởng nói chỉ 8 trong 52 ấp từng báo cáo hoàn thành còn đứng được, và ước 75% tỉnh dưới quyền kiểm soát của Việt Cộng (FRUS 1964–68 vol. I doc. 50). Deepe 24/5/1964 ghi Long An kế bên mất 75% ấp chiến lược sau đảo chính (UNL Keever 10942).

Vann ở Bàu Trai, 3–11/1965

Vann (giữa) cùng BG Robert H. York tại Đức Hoà — một trong bốn quận của Hậu NghĩaVann (giữa) cùng BG Robert H. York tại Đức Hoà — một trong bốn quận của Hậu Nghĩa
John Paul Vann, USOM Provincial Representative Hậu NghĩaJohn Paul Vann, USOM Provincial Representative Hậu Nghĩa
Hình 6 John Paul Vann ở Hậu Nghĩa. Thư riêng của ông từ Bàu Trai, 25/4/1965: tỉnh không có tỉnh trưởng hơn một tháng; Bàu Trai bị pháo cối hơn một giờ không có phản pháo.Wikimedia Commons · PFC Jose C. Rivera · Public domain · USOM/Office of Rural Affairs, Saigon. Photograph VA041055, No Date, Ogden Williams Collection, The Vietnam Archive, Texas Tech University. · Public domain

John Paul Vann, USOM Provincial Representative Hậu Nghĩa khoảng cuối 3/1965 đến 11/1965, để lại thư riêng trong Ellsberg Papers (mirror archive.org). Thư 25/4/1965: tỉnh không có tỉnh trưởng hơn một tháng; Vann ở lại toàn thời gian trong khi người Mỹ khác đi trực thăng từ Sài Gòn; Bàu Trai bị pháo cối hơn một giờ không có phản pháo (9 chết, 26 bị thương); một đồn cấp đại đội cách một dặm bị tràn (35 chết) vì lính ngủ không hố cá nhân, không tuần tra; dân "ghét Biệt động quân đóng ở đó"; phụ tá Douglas Ramsey bị phục kích trên "con đường an toàn nhất"; Vann viết "chúng ta sẽ thua cuộc chiến này" (Vann 25/4/1965). Thư gửi tướng Robert York 29/5/1965 (OCR hỏng nặng) bàn vùng gồm Củ Chi, ước 7.000 quân chính phủ so với ~2.700 VC, dân số giảm ròng ~14.000 trong năm đến 4/1965, và câu nổi tiếng được Sheehan dẫn: nếu là thanh niên nông thôn 18 tuổi ông sẽ chọn Mặt trận (Vann to York; Kempton, NYRB 24/11/1988). Thư 21/7/1965 ghi ông tiếp Jonathan Mirsky và đoàn ABC của Edward P. Morgan, phỏng vấn bị gián đoạn bởi VC bắn vào, và tả lễ "Ngày Quốc hận" 20/7 ở Bàu Trai (Vann 21/7/1965). Thư 23/11/1965: sau ~8 tháng Vann chuyển sang cố vấn dân sự cho tướng Seaman ở III Corps, Ramsey thay; Vann xếp Hậu Nghĩa vào nhóm an ninh kém nhất nước (Vann 23/11/1965). Bài "Harnessing the Revolution in South Vietnam" (10/9/1965) của Vann không nêu Hậu Nghĩa hay Củ Chi (Vann paper OCR).

Ellsberg, "Visit to an Insecure Province: Hau Nghia", 10/1965

Bản ghi nhớ của Daniel Ellsberg (đề 9/12/1965, Ellsberg Papers ELS021-036) là nhân chứng Mỹ dày nhất về tỉnh trước khi Sư đoàn 25 đến. Ngày 17/10/1965 Ellsberg lái xe cùng Vann từ Sài Gòn lên Bàu Trai; 18/10 thăm cả bốn quận gồm Củ Chi và chạy mọi con đường còn đi được; 19/10 làm việc với ban cố vấn MACV. Vann lái 80–110 km/h trên đoạn nguy hiểm, mìn thường điều khiển bằng dây, 15–20 kg, có khi 100–200 kg; đường Bàu Trai–Đức Hoà 11 km bị cắt nên phải vòng qua Gia Định hơn 50 km. Bảng kiểm soát chính thức ngày 17/10/1965: dân số ~226.113; "secured" 11.920 (5%), "undergoing securing" 29.576 (13%), "cleared" 51.637 (23%), VC kiểm soát 132.980 (~59%) so với GVN 93.133 (~41%); Ellsberg tự ước VC kiểm soát 85% trở lên; chỉ 28 trong ~250–300 ấp có ấp trưởng, 17 người trong số đó làm việc tại ấp; tỉnh trưởng đùa "tôi là ấp trưởng". Nhà máy đường Hiệp Hoà được nói là nộp VC ~1,7 triệu đồng/năm. Cố vấn nói phần lớn hành quân cấp nhỏ báo cáo là hư cấu; tháng 8/1965 Trung đoàn 49 báo 1.400 hành quân, 16 lần chạm súng, không giết VC nào, trong khi một trung đội Chiêu Hồi chạm súng 14 lần trong 17 hành quân, giết 11. Ngày 18/10 một quả mìn giết 5 lính Địa phương quân trên đường đoàn vừa đi lúc 11 giờ; 27/10 VC tràn Đức Lập lần nữa. Củ Chi được nêu là quận đã thăm nhưng không mô tả riêng; Route 1, Trung Lập, Phú Hoà Đông, Hố Bò, Filhol không xuất hiện (Ellsberg memo OCR; item page). Nhật ký ẩn danh của Ellsberg trên The Reporter 13/1/1966 kể tỉnh đại diện "Han Nghia" [sic] thoát mìn lần thứ tư (Reporter diary OCR).

Báo chí 1965: Deepe từ Bàu Trai

Beverly Deepe (NY Herald Tribune), dispatch 30/9/1965 "Plan to Pacify Saigon's Outskirts Is Failing": Tiểu đoàn 506 VC (tuyển mộ tại chỗ, đã tách thành hai, có tin lập thêm "Trung đoàn Thủ Đô") đánh tê liệt hai đại đội chính phủ gần Bàu Trai, tấn công sở chỉ huy Biệt động quân ở Đức Lập, pháo cối Đức Hoà; một người Mỹ nói "Hop Tac đã bị kẹp ở tỉnh này"; VC ít nhất 2.500 tay súng (có thể 4.000); hai bản OCR của cùng bài cho quân chính phủ là 2.000 hoặc 20.000 — mâu thuẫn trong cùng nguồn; dân thù địch vì vùng này "dưới quyền VC hàng chục năm" (UNL Keever 15690; bản OCR khác). Củ Chi không được nêu trong hai dispatch.

CIA 1965 và Operation Marauder

Báo cáo tình hình hằng ngày của CIA (CREST, mirror archive.org) ghi: 12/3/1965 tỉnh lỵ bị pháo cối; 31/8/1965 mìn ở trụ sở xã làm 12 dân vệ bị thương; tuần 23–30/10/1965 hai tiểu đoàn VC đánh Đức Lập trong khi Bàu Trai bị pháo cối, Liên tỉnh lộ 10 đóng; 11/11/1965 một đại đội ARVN đi giải vây Cây Trôm bị phục kích, 21 chết (CIA 3/11/1965; CIA 12/11/1965). Ngày 3/1/1966 CIA báo Operation MARAUDER của 173rd Airborne ở Hậu Nghĩa: 238 VC chết (đếm xác), 77 bị bắt, 553 nghi can; bạn 81 chết (15 Mỹ); hơi cay dùng ba lần (CIA doc 895511). CIA 11/3/1966 ước Hậu Nghĩa, Định Tường, Kiến Hoà cộng lại chiếm hơn 60% lực lượng chiến đấu của "Quân khu 8" theo cách đánh số của CIA (CIA 11/3/1966).

RAND và Simulmatics: Đức Lập, không phải Củ Chi

Nghiên cứu làng duy nhất của RAND trong tỉnh là bộ ba của R. Michael Pearce về Đức Lập: The Evolution of a Vietnamese Village, Part I The Present, After Eight Months of Pacification (RM-4552-1-ARPA, 4/1965); Part II The Past, August 1945 to April 1964 (RM-4692-1-ARPA, 4/1966; DTIC ADA032188); Part 3 Duc Lap Since November 1964 and Some Comments on Village Pacification (RM-5086-1-ISA/ARPA, 2/1967; DTIC ADA032418); kết luận trang 77: thất bại bình định ở Đức Lập "chứng tỏ không phải thắng lợi VC mà là thất bại GVN" (Moïse, villages; RAND RM-5086-1; archive.org DTIC_ADA032418). Ghi chú kho lưu trữ gán bộ này cho Simulmatics Corporation làm cho ARPA; ghi chú bình định gán cho Pearce/RAND — hai ghi chú không thống nhất về tác giả tổ chức; DTIC ADA032418 mô tả là "third and final memorandum of a field study of Duc Lap village". Đức Lập thuộc Đức Hoà, không thuộc Củ Chi. Bản xét lại nội bộ của Pohle (24/5/1968) về dự án phỏng vấn VC của RAND liệt kê các nghiên cứu vùng (Định Tường, đồng bằng) và không nêu Hậu Nghĩa hay Củ Chi (Pohle OCR). Kết luận: không có nghiên cứu Motivation-and-Morale nào của RAND tập trung vào Củ Chi.

Khung quốc gia: Komer 1966

Bài của Komer "Giving a New Thrust to Pacification" (7/8/1966) đặt ~54,3% dân số dưới kiểm soát GVN và chỉ ~11% diện tích "securely controlled" theo tiêu chí MACV, đề xuất hệ thống giám sát tốt hơn (mầm của HES) và ba phương án quản lý, trong đó phương án COMUSMACV chịu trách nhiệm với phó dân sự là mô hình CORDS (Komer 1966 OCR). Bản tổng kết của Komer cho RAND, Organization and Management of the New Model Pacification Program: 1966–1969 (D-20104-ARPA, 1970, 270 tr.) có PDF miễn phí nhưng là bản scan không có lớp chữ (RAND D20104).

Deepe tại Bàu Trai, 30/9/1965: bản đầy đủ

Vòng khảo sát thứ hai đọc được bản cắt báo rõ hơn và gỡ được mâu thuẫn OCR trong bản trước. Dispatch của Beverly Deepe từ Bàu Trai, đề "Plan to Pacify Saigon's Outskirts Is Failing": Bàu Trai là thị trấn khoảng 5.000 dân, tỉnh lỵ Hậu Nghĩa, cách Sài Gòn chừng 20 dặm tây bắc; một tiểu đoàn VC khoảng 500–700 người (nhận dạng là Tiểu đoàn 506) đánh đêm bốn mũi, làm tê liệt hai đại đội chính phủ ngay rìa vùng bình định Hợp Tác; giới chức báo 31 xác VC và khoảng 200 VC chết hoặc bị thương; tỉnh còn rất ít thanh niên trong làng để tuyển dân vệ; giới chức ước ít nhất 2.500 VC có vũ trang trong tỉnh, có thể lên 4.000, đối diện khoảng 20.000 quân chính phủ (UNL Keever 15690; bản cắt báo PDF). Con số 20.000 do đó là bản đúng; "2.000" trong bản OCR khác là lỗi quét. Deepe quy cho giới chức Việt Nam không nêu tên hai nhận định: dân thù địch vì vùng này "dưới quyền VC hàng chục năm", và trận đánh là "bất phân thắng bại về quân sự nhưng thất bại về chính trị" — lời kể người Việt qua nguồn ngoại quốc.

LỰC LƯỢNG Ở HẬU NGHĨA 1965: HAI NGUỒN, MỘT KHỚP MỘT KHÔNGVòng khảo sát thứ hai gỡ được mâu thuẫn OCR: con số 20.000 là bản đúng; “2.000” là lỗi quét.05.00010.00015.00020.000Quân chính phủDeepe, bản cắt báo 30/9/1965Deepe, bản cắt báo 30/9/1965 — “khoảng 20.000 quân chính phủ”20.000“khoảng 20.000 quân chính phủ”Vann, 5/1965Vann, 5/1965 — ~7.000 — có thể Deepe đếm cả Địa phương quân và Nghĩa quân7.000~7.000 — có thể Deepe đếm cả Địa phương quân và Nghĩa quânVC có vũ trangDeepe, 9/1965Deepe, 9/1965 — “ít nhất 2.500”, có thể lên 4.0002.500“ít nhất 2.500”, có thể lên 4.000Vann, 5/1965Vann, 5/1965 — ~2.700 — hai số này khớp nhau2.700~2.700 — hai số này khớp nhautrần 4.000Bàu Trai: thị trấn khoảng 5.000 dân. Tiểu đoàn 506 VC: khoảng 500–700 người, đánh đêm bốn mũi.Kết quả do giới chức báo: 31 xác VC, khoảng 200 VC chết hoặc bị thương.Nguồn: Deepe, “Plan to Pacify Saigon’s Outskirts Is Failing”, 30/9/1965; thư Vann 5/1965 — mục 4 và mục 11.
Hình 7 Lực lượng hai bên ở Hậu Nghĩa năm 1965 theo Deepe và theo Vann.Dựng theo mục 4 và mục 11.

Đường cong sụp ấp chiến lược 1962 → 1964

Ba mốc Mỹ nối thành một đường cong: Heavner báo về ấp chiến lược Củ Chi đang xây, tháng 3/1962 (khi quận còn thuộc Bình Dương); Harkins đánh giá Hậu Nghĩa đầu 11/1963; CIA (Helms/Colby) tháng 2/1964 đếm 8 trong 52 ấp Hậu Nghĩa còn đứng, ~75% dưới quyền VC. Tức chương trình ấp chiến lược ở vùng này sụp trong khoảng hai năm kể từ khi được báo cáo là đang xây — và sụp trước khi tỉnh Hậu Nghĩa tồn tại (lập 15/10/1963). Tỉnh được dựng trên đất đã mất, đó là tiền đề của mọi điều Ellsberg và Vann thấy năm 1965. Vann năm 1969 cũng đọc đợt mở rộng bình định sau Tết ngược về chương trình ấp chiến lược 1962–1963 và sự sụp đổ của nó sau khi Diệm đổ (Vann, "Thoughts on GVN/VC Control", 2/4/1969).

ĐƯỜNG CONG SỤP ẤP CHIẾN LƯỢC, 1962 → 1964“Tỉnh được dựng trên đất đã mất, đó là tiền đề của mọi điều Ellsberg và Vann thấy năm 1965.”3/1962Heavner báo vềấp chiến lược Củ Chi đang xây(khi quận còn thuộc Bình Dương)đầu 11/1963Harkins đánh giáHậu Nghĩatỉnh trưởng và cố vấn không chia sẻ bi quan2/1964CIA (Helms/Colby) đếm8 trong 52 ấp còn đứng~75% tỉnh dưới quyền Việt Cộng52 ẤP TỪNG BÁOLÀ HOÀN THÀNH8 còn đứng44 đã mất15/10/1963 — tỉnh Hậu Nghĩa được lậpchương trình ấp chiến lược sụp TRƯỚC khi tỉnh tồn tạiNguồn: FRUS 1961–63 vol. II doc. 116 và vol. IV doc. 246; FRUS 1964–68 vol. I doc. 50 — mục 4.
Hình 8 Ba mốc Mỹ nối thành một đường cong: ấp chiến lược Củ Chi sụp trước khi tỉnh Hậu Nghĩa tồn tại.Dựng theo mục 4.

Bergerud 1991: nội dung về Củ Chi, ở mức chương

Toàn văn The Dynamics of Defeat không đọc được từ phiên này (cho mượn có kiểm soát chặn toàn bộ lớp OCR và mọi điểm cuối "search inside"; máy chủ Google Books không nằm trong danh sách cho phép của phiên; Taylor & Francis chỉ trả meta description bị cắt). Những gì xác lập được ở mức chương: chương 7 "Sword and Shield: Pacification Efforts, 1966–1967" mở đầu bằng việc đặt mốc quan tâm của giới hoạch định Mỹ về bình định vào cuối 1965 – đầu 1966, "đúng lúc Sư đoàn 25 đang được triển khai tới Củ Chi" (T&F ch. 7); chương 4 mở bằng lời một cựu binh Sư đoàn 25 phỏng vấn hơn hai mươi năm sau, gọi tỉnh này là "xanh và phì nhiêu" (ch. 4); chương 11 lập luận rằng dù nỗ lực Mỹ–VNCH làm Mặt trận thiệt hại trong 1969, phần lớn thiệt hại đến từ tiêu hao quân sự và đào ngũ chứ không từ các chương trình bình định (ch. 11). Tóm tắt luận điểm theo Publishers Weekly (1/1/1991): Bergerud bác bỏ quan niệm rằng người Mỹ chỉ quan tâm đánh lớn và đếm xác, cho thấy Sư đoàn 25 cũng hỗ trợ bình định; nhưng các cuộc hành quân gây tàn phá và chết dân đáng kể; và vấn đề gần như không giải được về chính trị, vì nông dân xem chính quyền Sài Gòn là xa cách, tham nhũng, kém hiệu quả, còn Việt Cộng trung thực, hiệu quả và chăm lo hơn (Publishers Weekly) — phán đoán so sánh của nông dân là tổng hợp của Bergerud từ lời kể người Việt, do tác giả Mỹ thuật lại. Nền tư liệu của ông: toàn bộ hồ sơ ban cố vấn Hậu Nghĩa và tài liệu CORDS ông dùng nằm ở Current History Branch, Trung tâm Quân sử Lục quân Mỹ (CMH) (T&F ch. 2 "A Note on Primary Sources"). Vì Hậu Nghĩa chỉ có bốn quận và Củ Chi giữ căn cứ sư đoàn Mỹ, một tự sự cấp tỉnh ở độ dày này tất yếu phần lớn là tự sự về Củ Chi.

Điều chưa kiểm chứng trong mục này

Chương "The Front Victorious: Hau Nghia Province Through 1965" của Bergerud 1991 chưa đọc được (archive.org cho mượn có kiểm soát). Bản ghi nhớ Phillips "re: Hau Nghia Province" 9/9/1966 (TTU item 23970220081) chỉ có bản ghi mục lục (TTU 584143). Sheehan, A Bright Shining Lie, Book VI về Vann ở Hậu Nghĩa chưa đối chiếu từ trang nào. Hồ sơ Advisory Team 43 (Hậu Nghĩa) trong RG 472 472.4.9 chưa định vị NAID. Không có dispatch báo chí nào 1962–1965 nêu Củ Chi bằng tên ngoài thư Heavner và tin điện 4/7/1963.

Mục 5

Chiến dịch Mỹ–Úc 1966–1967 trong hồ sơ quân sự

Operation Crimp, 8–14/1/1966

Tài liệu gốc là COAAR của 173rd Airborne Brigade (Separate), "Operation 'CRIMP'", đề ngày 23/2/1966, 62 trang, DTIC AD0388134, bản OCR trên archive.org; tóm tắt: lữ đoàn chuyển từ Marauder (Hậu Nghĩa) sang Crimp từ 8/1/1966, "chiến dịch Mỹ lớn nhất ở Việt Nam đến lúc đó", tấn công bộ tư lệnh chính trị–quân sự Quân khu 4 VC được cho là nằm trong "vùng rừng Hố Bò khét tiếng ở Bình Dương" (archive.org DTIC_AD0388134). Nội dung OCR: tình báo đặt sở chỉ huy Đặc khu Sài Gòn–Chợ Lớn–Gia Định ở toạ độ XT 630270, bảo vệ bởi một đại đội địa phương và một hai tiểu đoàn chủ lực gần đó; sở chỉ huy được tìm thấy xa hơn về phía đông trong vùng có dân; kháng cự từ bắn tỉa đến cấp đại đội (Đại đội Địa phương 306); ~7.500 tài liệu gồm chiến lược hưu chiến Tết, bản đồ cơ sở Mỹ ở Sài Gòn–Chợ Lớn, danh sách đảng viên; hầm nhiều tầng, có đoạn bê tông cốt thép, bảo vệ bằng mìn điều khiển; lữ đoàn ước cần quân số lớn trong ít nhất một tháng để phá hết. Dân sự: ngày 8/1 gặp hơn 400 người tản cư, 30 phụ nữ trẻ em trong hầm; 9/1 sơ tán 490 người bằng trực thăng (36 VC xác nhận, 167 nghi can); 11/1 hơn 600 người, 58 bị bắt trong một hệ thống hầm tại XT 642299; lữ đoàn đánh giá dân địa phương "được nhồi nhét kỹ và cực kỳ tận tuỵ" với VC (DTIC_AD0388134 OCR). Cùng báo cáo được quay microfilm tại UPA Reel I frame 0015 (UPA guide); bộ microfilm này được King's College London giữ dưới MF 792–812 (King's College).

Lính Úc tại Operation Crimp, 1/1966Lính Úc tại Operation Crimp, 1/1966
Cửa hầm trong vùng CrimpCửa hầm trong vùng Crimp
Pháo 105 mm bắn yểm trợ, 1/1966Pháo 105 mm bắn yểm trợ, 1/1966
Lính 1 RAR với vũ khí thu đượcLính 1 RAR với vũ khí thu được
Hình 9 Operation Crimp, 8–14/1/1966: “chiến dịch Mỹ lớn nhất ở Việt Nam đến lúc đó”, đánh vào vùng rừng Hố Bò.Wikimedia Commons · Marshall, S.L.A. · Public domain · Center of Military History · Public domain · Shannon, Michael Barry · CC0

Lực lượng theo nguồn thứ cấp dẫn Carland Stemming the Tide (CMH 2000) và McNeill To Long Tan (1993): 3rd Bde 1st Inf Div (Col. Brodbeck) + 173rd Abn Bde (Brig. Gen. Williamson) + 1 RAR (Lt Col Preece) với 105 Field Battery, 3 Field Troop RAE (Capt. MacGregor) và M113 của Prince of Wales's Light Horse, tổng ~8.000; mục tiêu trong vùng 31 km² có bốn cửa canh gác; đơn vị VC: C306, Tiểu đoàn 3 Quyết Thắng, Tiểu đoàn 7 Củ Chi; sức địch ước ~1.000 (Wikipedia: Operation Crimp); Head cho rằng kế hoạch ước hai tiểu đoàn chủ lực "khoảng 5.000 người" (Head, HistoryNet 2023) — hai ước lượng mâu thuẫn. Trang DoD 50th Commemoration dẫn Carland tr. 169–173: B-52 dọn trước, sở chỉ huy ngầm có doanh trại, bệnh viện, bếp, xưởng, "khoảng 7.500 tài liệu và bản đồ", trong đó sổ tay chính uỷ được gọi là "CRIMP Document" (vietnamwar50th.com).

Phát hiện theo phía Mỹ: Sgt. Stewart Green (1/28th Inf) ngồi lên đinh trên nắp hầm, chui xuống và gặp ~30 VC ngay dưới chân quân Mỹ; Lt. Col. Haldane kết luận lính mình đã đi trên đầu địch (Head 2023; Washington Post, Haldane obituary). Phương pháp Mỹ: hơi cay CS, chất nổ, máy thổi khói "Mighty Mite" để tìm cửa; McAulay ghi máy bơm không đẩy nổi nắp hầm quá nặng, 37 lựu đạn khói không cho chỉ dấu trên mặt đất, hơi còn lại cản người tìm (McAulay). Battlefield Reports Vol. II đã ghi 173rd dùng hơi cay "nhiều lần" để đuổi người khỏi hầm (DTIC AD0831179). Tài liệu bắt được: McAulay tả "tám xe tải tài liệu", chìa khoá là chiếc cặp da chứa hồ sơ nhân sự VC vùng Sài Gòn, đưa thẳng lên MACV; MACV ra Counter-Intelligence Instruction No. 1 ngày 1/3/1966; Westmoreland không nhắc Crimp trong báo cáo cuối nhiệm kỳ 1968 lẫn hồi ký 1976 (McAulay). Hai phim DoD Staff Film Report 66-5A và 66-10A (1966) ghi hình chiến dịch (archive.org gov.dod.dimoc.27007). Số thương vong và tài liệu mâu thuẫn được lập bảng ở mục 11.

Lính Mỹ chui xuống địa đạo trong Operation Crimp, 1/1966. Sgt. Stewart Green của 1/28th Inf ngồi lên đinh trên nắp hầm, chui xuống và gặp khoảng ba mươi người ngay dưới chân quân M
Hình 10 Lính Mỹ chui xuống địa đạo trong Operation Crimp, 1/1966. Sgt. Stewart Green của 1/28th Inf ngồi lên đinh trên nắp hầm, chui xuống và gặp khoảng ba mươi người ngay dưới chân quân Mỹ.Wikimedia Commons · Center of Military History · Public domain

Sư đoàn 25 vào Củ Chi và các cuộc càn 1966

Theo lịch sử Tiểu đoàn 1/5 Cơ giới ("Bobcats", biên soạn từ hồ sơ tiểu đoàn): tiền trạm sư đoàn đến 24/12/1965; thân chính Lữ đoàn 2 đổ bộ Vũng Tàu 18/1/1966, chuyển lên Củ Chi bốn đợt 25/1–3/2/1966; Sư đoàn 1 Bộ binh dọn bãi căn cứ từ 25/1 trong khi còn bị bắn cối, đến 29/1 đã tìm thấy năm hệ thống hầm trên khu đất; đợt cuối đến 3/2; bộ tư lệnh sư đoàn đến 28/3/1966; dọn vòng đai năm ngày 30/1–4/2/1966 phá 20 cụm hầm, có cụm dài nửa dặm (Bobcats 1966). Traas Engineers at War (CMH 2010, qua Wikipedia): 23/2/1966 một trung đội C/168th Engineer Bn đến giúp xây; 65th Engineer Bn (Lt. Col. Strider) mang bộ gỗ cắt sẵn; cuối 4/1966 bộ tư lệnh và quân y đã ở nhà tiền chế (Wikipedia: Củ Chi Base Camp).

Operation CIRCLE PINES (29/3–5/4/1966, Lữ đoàn 2, Hố Bò/Phú Hoà Đông): AAR của 1/5 Mech ngày 10/4/1966 ghi hầm ba–bốn tầng gần XT 658247, 71 địa đạo phá, 40 VC chết (đếm xác), 57 ước, địch là Tiểu đoàn 307/Trung đoàn 165A và Đại đội hoả lực 048, ~5 tấn gạo thu, 11 Mỹ chết, 58 bị thương, 9 M113 hỏng vì mìn; Phú Hoà Đông bị phong toả để Trung đoàn 7 ARVN lục soát; bài học: phục kích tạo 20 trong số kills, ARVN không giữ tuyến (AAR Circle Pines). KALAMAZOO (13–14/4) dọn lại cùng hệ thống, 26 VC chết, 109 hầm/công sự phá; WAHIAWA (16–30/5/1966) đưa cả sư đoàn vào Filhol–Hố Bò–Bời Lời chống Tiểu đoàn 1/165A: 157 VC chết, 139 cụm địa đạo, 234 nhà, 41 công sự phá, ~855 tấn gạo, Bời Lời có bệnh viện nguỵ trang và chưa từng bị quân Mỹ vào (TLN 1-14; Wikipedia: Wahiawa dẫn Carland); COCO PALMS (25/6–1/7/1966): 34 VC chết, 78 địa đạo và 155 công sự phá, cần chất nổ vì acetylene không tới hầm sâu (HoBos page); COAAR có trên DTIC AD0394021. Ngày 19/7/1966 Trung đội 1, Đại đội A, 1/27th Inf đổ xuống Hố Bò mất 25 chết, 24 bị thương; tiểu đoàn nhận Presidential Unit Citation năm 2013 (Wikipedia: Hố Bò woods). KIPAPA (3–12/9/1966, Filhol XT 6720): AAR ghi đồn điền "có mạng địa đạo và hào rộng lớn", từ hầm thoát của nhà dân đến "mạng lót bê tông lớn", hào do dân bị cưỡng bức đào; hầm bốn tầng tại XT 704206 ngày 6/9 (AAR Kipapa). Tổn thất sư đoàn 1966 theo Bobcats: 1/1–30/4: 91 chết, 914 bị thương; 1/5–31/7: 132/1.239; 1/8–31/10: 79/845 (Bobcats 1966).

CÁC CHIẾN DỊCH MỸ–ÚC Ở VÙNG CỦ CHI, 1966–1967Chỉ những con số do chính hồ sơ đơn vị hoặc báo sư đoàn ghi; dấu — là nguồn đã đọc không nêu.CHIẾN DỊCHVÙNG VÀ GHI CHÚVC CHẾT (ĐẾM XÁC)ĐỊA ĐẠO PHÁCRIMP8–14/1/1966Hố Bò · 173rd Abn + 3rd Bde 1st ID + 1 RARCRIMP — 128 VC chết128—CIRCLE PINES29/3–5/4/1966Hố Bò / Phú Hoà Đông · Lữ đoàn 2CIRCLE PINES — 40 VC chết40CIRCLE PINES — 71 địa đạo phá71KALAMAZOO13–14/4/1966dọn lại cùng hệ thốngKALAMAZOO — 26 VC chết26KALAMAZOO — 109 địa đạo phá109WAHIAWA16–30/5/1966Filhol – Hố Bò – Bời Lời · cả sư đoànWAHIAWA — 157 VC chết157WAHIAWA — 139 địa đạo phá139COCO PALMS25/6–1/7/1966acetylene không tới hầm sâuCOCO PALMS — 34 VC chết34COCO PALMS — 78 địa đạo phá78KIPAPA3–12/9/1966Filhol XT 6720 · hầm bốn tầng tại XT 704206——CEDAR FALLS8–26/1/1967chặn phía tây sông Sài Gòn · năm đợt B-52CEDAR FALLS — 331 VC chết331CEDAR FALLS — 521 địa đạo phá521ALA MOANA1/12/1966–14/5/1967Hậu Nghĩa – Bình Dương, quanh Củ Chi và FilholALA MOANA — 381 VC chết381—MANHATTAN23/4–7/6/1967Hố Bò / Bời Lời · 1.594 m địa đạo pháMANHATTAN — 74 VC chết74—AKIMU9–26/7/1967vây Phú Hoà Đông · 40.197 người được sàng lọc—AKIMU — 74 địa đạo phá74BARKING SANDStừ 18/5/1967bình định Củ Chi và Trảng Bàng · luỹ kế 480 chếtBARKING SANDS — 320 VC chết320BARKING SANDS — 855 địa đạo phá855KOLEKOLEluỹ kế đến 10/19671/5 Mech phá 179 địa đạo trong 142 ngàyKOLEKOLE — 679 VC chết679KOLEKOLE — 425 địa đạo phá425DIAMOND HEADluỹ kế đến 10/19673.448 công sựDIAMOND HEAD — 159 VC chết159DIAMOND HEAD — 69 địa đạo phá69KUNIAtừ 20/9/1967dọn đất Hố Bò · 9.645 mẫu Anh đến cuối 10/1967——ATLANTAtừ 18/11/1967Tam giác Sắt · bơm nước mặn vào cụm hầm hơn 900 mATLANTA — 74 VC chết74—CAMDEN17–31/12/1967“100+ chết”CAMDEN — 100 VC chết100—Crimp: 128 xác nhận (+190 có thể) — bảng mâu thuẫn đầy đủ ở mục 11.Kolekole và Diamond Head là số luỹ kế trong ORLL quý kết thúc 31/10/1967, không phải một đợt riêng.Nguồn: mục 5 — AAR 1/5 Mech; ORLL Sư đoàn 25 (AD0504136, AD0388381); Tropic Lightning News.
Hình 11 Các chiến dịch Mỹ–Úc ở vùng Củ Chi 1966–1967, với số VC chết đếm xác và số địa đạo phá ghi trong hồ sơ đơn vị.Dựng theo mục 5.

Operation Cedar Falls, 8–26/1/1967

COAAR của Sư đoàn 25 (chuyển bằng thư DA AGAM-P (M) 26/4/1967): nhiệm vụ chặn phía tây sông Sài Gòn "từ nam Bời Lời đến 4 km đông Phú Hoà Đông"; Phase I 196th LIB đổ bộ chiếm cao điểm ở Hố Bò nhìn xuống sông; Phase II Lữ đoàn 2 chặn dọc sông; 409 phi vụ, năm đợt B-52 (6, 7, 19/1), pháo từ Củ Chi và Trung Lập (14.644 đạn nổ); địch: Tiểu đoàn 1, 2, 7, 8 "Trung đoàn 165", D-14, Quân khu 4; chạm súng nặng duy nhất 8/1 giữa 1/27th và Tiểu đoàn 2/165; kết quả 331 VC chết (đếm xác), 155 có thể, 39 tù binh, 147 Hồi Chánh, 147 bị giữ; bạn 40 chết, 156 bị thương, 3 M113 và 1 xe tăng mất; 521 địa đạo phá, 340 công trình, 253,85 tấn gạo thu, 100,4 tấn huỷ, 1.500 gallon nước mắm; 285 lb tài liệu huỷ + 60 lb chuyển về; 976.265 truyền đơn; 83 dân di dời đến Trung Lập; xe ủi cô lập Phú Hoà Đông khỏi Filhol; ngày 21/1 Đại đội A 1/5 Mech tìm hệ thống tại XT650235 trong Hố Bò, hầm chính ~600 m với 10 nhánh, được cho là sở chỉ huy VC, lục soát bốn ngày, hơn 60 lb tài liệu (VHPA transcription of the 25th ID Cedar Falls AAR; Bobcats 1967). "Lessons Learned, Operation Niagara/Cedar Falls" 304 trang ở UPA Reel V/0236 và DTIC AD0391115.

M48 trong Cedar Falls, 17/1/1967M48 trong Cedar Falls, 17/1/1967
Xe ủi D-7 của B/65th Engineer BnXe ủi D-7 của B/65th Engineer Bn
Tù binh, 19/1/1967Tù binh, 19/1/1967
Nhà bị phá, 1/1967Nhà bị phá, 1/1967
Một em nhỏ được chữa trịMột em nhỏ được chữa trị
Dọn rừng, 26/1/1967Dọn rừng, 26/1/1967
Hình 12 Operation Cedar Falls, 8–26/1/1967. Nhiệm vụ của Sư đoàn 25 là chặn phía tây sông Sài Gòn “từ nam Bời Lời đến 4 km đông Phú Hoà Đông”.Wikimedia Commons · NARA photo 111-CCV-345-CC38111 by SP5 Robert C. Lafoon · Public domain · SSG Franciso J. Salas · Public domain · NARA photo 111-CCV-345-CC38316 by SSG Edward Kane · Public domain · Office of History, Headquarters, U.S. Army Corps of Engineers USACE LNO trip slides Vietnam 6.222 · Public domain · SSGT Francisco J. Salas · Public domain · NARA photo 111-CCV-345-CC38209 by SSG Franciso Salas · Public domain

Số liệu toàn chiến dịch theo Rogers, Cedar Falls–Junction City: A Turning Point (Vietnam Studies, DA 1974; CMH Pub 90-7): chương VI (bản HTML CMH đọc được trong phiên Úc) ghi đội chuột địa đạo từ 242d Chemical Detachment và 1st Engineer Battalion, 6–10 người, súng ngắn giảm thanh, "skull mike", la bàn, máy thổi Mighty Mite; cụm đầu dài hơn 600 m trước khi CS tích tụ chặn, rồi thêm 800 m; cụm bệnh viện 300 m; tài liệu cho G-2 Sư đoàn 1 gồm nhiều chuyến trực thăng hồ sơ ban tình báo Quân khu 4 1963–1966; acetylene hiệu quả đến ~7 ft lớp phủ, acetylene cộng TNT 30 lb và charge 40 lb phá hầm sâu 15–20 ft; tổng 9.445 m địa đạo phá, 4 làng, 27 căn cứ, 60 công sự; 1st Engineer Bn mất 1 chết, 7 bị thương (Rogers ch. VI). Tại Bến Súc, ~10.000 lb chất nổ nhồi vào hốc trung tâm để nghiền hầm chưa tìm thấy; Lt Col Kiernan nói vùng "đầy hầm" đến mức VC chui lên sau lưng xe ủi (Rogers PDF). Project CHECO (PACAF) tóm tắt: Mỹ 72 chết, 337 bị thương; địch 720–750 chết, 280–488 tù binh; ảnh hưởng lâu dài đối với hiện diện VC "tối thiểu" (CHECO excerpt); ec47.com (dẫn Westmoreland và CHECO): phức hợp Bến Súc cho 492.553 trang tài liệu + hơn 1.500 trang tín hiệu/mật mã; công binh dọn 9 km²; ARDF định vị 574 mục tiêu (ec47.com III Corps). ABMC: 700 chết, 700 bắt, 1.100 công sự, 400 địa đạo, 500 công trình, 3.700 tấn gạo, 491.553 trang (ABMC). Greenberg: 45 Rome Plow và gần 500 xe ủi thường (Greenberg 1991). Toàn bộ mâu thuẫn số liệu được lập bảng ở mục 11. Lời kể người Việt qua nguồn ngoại quốc: phỏng vấn WGBH 1981 với Đặng Xuân Tèo tả B-52, pháo, An Phú và Xóm Chùa bị ủi phẳng, dân Nhuận Đức, Phú Mỹ Hưng, An Nhơn Tây bị dời (WGBH Open Vault).

OPERATION CEDAR FALLS: MỘT CHIẾN DỊCH, SÁU BỘ SỐBa chỉ số, ba thang đo riêng. Không chỉ số nào được hoà giải — đó là nguyên tắc của mục 11.Lưu ý trong văn bản: 521 địa đạo của riêng khu vực Sư đoàn 25 lớn hơn con số “424” cho toàn chiến dịch củaPaschall — cho thấy đơn vị đếm “tunnel” không nhất quán giữa các cấp chỉ huy.ĐỊCH CHẾT25th ID AAR25th ID AAR — Địch chết: 331 + 155 có thể331 + 155 có thểRogers 1974Rogers 1974 — Địch chết: ~750~750ABMCABMC — Địch chết: 700700CHECOCHECO — Địch chết: 720–750720–750Paschall 2012Paschall 2012 — Địch chết: 723723ec47.comec47.com — Địch chết: “hơn 700”“hơn 700”MỸ CHẾT25th ID AAR25th ID AAR — Mỹ chết: 4040Rogers 1974Rogers 1974 — Mỹ chết: 7272ABMC—CHECOCHECO — Mỹ chết: 7272Paschall 2012Paschall 2012 — Mỹ chết: 72 (Mỹ+ARVN)72 (Mỹ+ARVN)ec47.comec47.com — Mỹ chết: 7373ĐỊA ĐẠO PHÁ25th ID AAR25th ID AAR — Địa đạo phá: 521521Rogers 1974Rogers 1974 — Địa đạo phá: 25 (gần như chắc lỗi chép)25 (gần như chắc lỗi chép)ABMCABMC — Địa đạo phá: 400400CHECO—Paschall 2012Paschall 2012 — Địa đạo phá: 424424ec47.com—Các chỉ số còn lại, không so sánh được:Tài liệu60 lb chuyển + 285 lb huỷ (AAR) · 491.553 trang (ABMC) · ~500.000 trang (Paschall) · 492.553 trang + 1.500 trang SIGINT (ec47)Gạo253,85 t thu + 100,4 t huỷ (AAR) · “nuôi 13.000 quân một năm” (Rogers) · 3.700 t (ABMC, Paschall, ec47)Dân di dời83 người đến Trung Lập (AAR, riêng khu vực) · ~6.000 toàn chiến dịch (Rogers); riêng Bến Súc ~3.500 (Schell) / 3.800 (NYT)
Hình 13 Operation Cedar Falls đọc qua sáu nguồn: ba chỉ số, ba thang đo riêng, không hoà giải.Dựng theo bảng ở mục 11.

1967: Ala Moana, Manhattan, Akimu, Kolekole, Barking Sands, Kunia, Atlanta, Camden

ORLL Sư đoàn 25 quý kết thúc 31/7/1967 (DTIC AD0504136; OCR kém): Junction City (22/2–16/5/1967, Chiến khu C, không ở Củ Chi) 947 chết đếm xác; ALA MOANA (1/12/1966–14/5/1967, Hậu Nghĩa–Bình Dương, quanh Củ Chi và Filhol) 381 chết đếm xác, 652 bị giữ; MANHATTAN (23/4–7/6/1967, Hố Bò/Bời Lời) 74 chết, 1.594 m địa đạo phá, 1.163 công sự, 65th Engineers dùng "HOKE PLOW"; BARKING SANDS từ 18/5/1967, Lữ đoàn 1, bình định Củ Chi và Trảng Bàng, đến ngày báo cáo 115 chết, 12.346 bị giữ, 236 địa đạo; AKIMU 9–26/7/1967, vây và lục soát Phú Hoà Đông với Trung đoàn 7 ARVN, 40.197 người được sàng lọc, 74 địa đạo, 237 công sự; 13/7/1967 lúc 2135 căn cứ nhận 16 đạn cối 82 mm, 15 bị thương; 18/7 Tiểu đoàn 1 và 7 Quân khu IV đánh đồn Phước Hiệp (16 ARVN chết, 30 mất tích); địch nhận dạng: Tiểu đoàn 1 MR IV (200–300), "Tiểu đoàn 7, quận Củ Chi"; bài học "trước khi phá công sự và địa đạo, rải CS"; 40 người được huấn luyện phá địa đạo 5–6/1967 (DTIC AD0504136). ORLL quý kết thúc 31/10/1967 (DTIC AD0388381): Kolekole luỹ kế 679 chết, 425 địa đạo; Barking Sands 320 chết, 855 địa đạo, 133,75 tấn gạo; Diamond Head 159 chết, 69 địa đạo, 3.448 công sự; KUNIA (dọn đất Hố Bò từ 20/9/1967): đến cuối tháng 10 9.645 mẫu Anh rừng Hố Bò bị 30 Rome Plow và bangalore dọn, địch đáp bằng mìn, bắn tỉa, cối đêm; 65th Engineers làm ngập một cụm hầm tại XT615302; địch: Tiểu đoàn 269, Tiểu đoàn 2 Gò Môn; 16/10 tấn công Đức Hoà và Bàu Trai; tổn thất sư đoàn 8–10/1967: 154 chết, 1.591 bị thương; bài học bơm nước phá hầm với máy 1.120 GPM, bắn vào hầm trước khi mở nắp (DTIC AD0388381). Báo sư đoàn: Rome Plow của 27th Land Clearing Team cắt 90% "khu 13.000 mẫu Anh" Hố Bò trong 56 ngày, rồi trực thăng phun chất khai quang lên cây tái sinh; cụm nhiều tầng dài hơn 2.000 m có máy ảnh, máy in và chữ in; hơn 850 gia đình Phú Hoà Đông bị di dời và dọn vành đai 1.000 m quanh làng; tổng Barking Sands 480 chết, 260.365 viên đạn, 196 tấn gạo (TLN 2-51); đợt càn Hố Bò từ 17/9 với ~2.000 quân Lữ đoàn 1 cho "hơn năm dặm địa đạo", 69.000 lb gạo, Rome Plow dọn ~250 mẫu Anh/ngày; 1/5 Mech phá 179 địa đạo, giết 56 VC trong 142 ngày (Kolekole) (TLN 2-42). ATLANTA (từ 18/11/1967, Tam giác Sắt): đến 30/11 74 VC chết, 14 Mỹ chết, 20 căn cứ phá, Rome Plow dọn gần 400 mẫu Anh/ngày; tháng 12 1/27th và A/65th Engineers bơm nước mặn sông Sài Gòn vào cụm hầm hơn 900 m ở đỉnh nam Tam giác với hai máy 1.100 gal/phút qua 1.700 ft ống và thuốc nhuộm vàng; lời kể người Việt qua nguồn ngoại quốc: một Hồi Chánh nói ~150 dân công đào hằng ngày trong một năm (TLN 2-50; TLN 2-51). SARATOGA (8/12/1967–11/3/1968) và CAMDEN (17–31/12/1967): ngày 8/12 1/27th đổ xuống Hố Bò/Filhol bảo vệ cuộc dọn hơn 5.250 mẫu Anh; 12/12 Tiểu đoàn 1/Trung đoàn 101 QĐNDVN đánh 1/27th ở Filhol (39 chết), được Col. Emerson gọi là "lần đầu chạm QĐNDVN ở Hậu Nghĩa"; Camden 100+ chết (Wikipedia: Operation Saratoga, dẫn Villard 2017 và COAAR Lữ đoàn 2 tại TTU; TLN 2-51).

Vùng hành quân Kunia, 9/1967: sông Sài Gòn và vệt đất đã bị Rome Plow bóc trắng ở rừng Hố Bò. Đến cuối tháng 10/1967, 9.645 mẫu Anh rừng Hố Bò đã bị 30 Rome Plow và bangalore dọn.
Hình 14 Vùng hành quân Kunia, 9/1967: sông Sài Gòn và vệt đất đã bị Rome Plow bóc trắng ở rừng Hố Bò. Đến cuối tháng 10/1967, 9.645 mẫu Anh rừng Hố Bò đã bị 30 Rome Plow và bangalore dọn.Wikimedia Commons · Office of History, Headquarters, U.S. Army Corps of Engineers USACE LNO trip slides Vietnam 9.103 · Public domain

Nhận định chung của sư đoàn về kỹ thuật, xâu lại từ các ORLL: Mighty Mite khói (1966) → bơm chất nổ hoá hơi (1966) → rải CS trước khi phá (ORLL 7/1967) → bơm nước ngập và thuốc nhuộm (ORLL 10/1967; Atlanta 12/1967) → acetylene + chất nổ (Cedar Falls) → Rome Plow bóc rừng (9/1967–1/1969). Đến đầu 1968 khoảng 12.000–13.000 mẫu Anh (~50 km²) Hố Bò đã bị bóc; thêm 22.977 mẫu Anh (~93 km²) Bời Lời–Trapezoid–Citadel–Trảng Bàng–Bàu Điều trong quý 11/1968–1/1969 (DTIC AD0502976). Rừng của quận do đó về cơ bản bị xoá bằng Rome Plow trước chiến dịch B-52 1969–1970.

BÓC RỪNG BẰNG ROME PLOW, 1967–1969“Rừng của quận do đó về cơ bản bị xoá bằng Rome Plow trước chiến dịch B-52 1969–1970.”04.0008.00012.00016.00020.00024.000MẪU ANH ĐÃ BỊ DỌNRừng Hố Bò, đến cuối 10/1967Rừng Hố Bò, đến cuối 10/1967 — 9645 mẫu Anh9.645 mẫu Anh30 Rome Plow và bangalore(ORLL 10/1967)Hố Bò, đến đầu 1968Hố Bò, đến đầu 1968 — 12500 mẫu Anh12.500 mẫu Anh“khoảng 12.000–13.000 mẫu Anh(~50 km²)”Bời Lời – Trapezoid – Citadel –Trảng Bàng – Bàu Điều, quý 11/1968–1/1969Bời Lời – Trapezoid – Citadel – Trảng Bàng – Bàu Điều, quý 11/1968–1/1969 — 22977 mẫu Anh22.977 mẫu Anh~93 km² chỉ trong một quý(DTIC AD0502976)NHỊP ĐỘ GHI TRONG NGUỒN·27th Land Clearing Team cắt 90% “khu 13.000 mẫu Anh” Hố Bòtrong 56 ngày·đợt càn Hố Bò từ 17/9/1967~250 mẫu Anh/ngày·Operation Atlanta, Tam giác Sắt, 11/1967gần 400 mẫu Anh/ngày·Cedar Falls, theo Greenberg45 Rome Plow và gần 500 xe ủi thường
Hình 15 Diện tích rừng bị bóc bằng Rome Plow, 1967–1969.Dựng theo mục 5.

Khai quang và B-52

Rome Plow trong vùng Kunia, 9/1967Rome Plow trong vùng Kunia, 9/1967
Một đoạn đường đã được Rome Plow dọnMột đoạn đường đã được Rome Plow dọn
Máy kéo HD-16 gắn Rome PlowMáy kéo HD-16 gắn Rome Plow
Hình 16 Rome Plow. “Rừng của quận do đó về cơ bản bị xoá bằng Rome Plow trước chiến dịch B-52 1969–1970.”Wikimedia Commons · Office of History, Headquarters, U.S. Army Corps of Engineers USACE LNO trip slides Vietnam 9.105 · Public domain · SSG Robert R. Ellis · Public domain

Nguồn Mỹ riêng về Củ Chi đọc được chỉ ghi một câu về khai quang (trực thăng phun lên cây tái sinh sau khi dọn Hố Bò, TLN 25/12/1967); sáu ORLL đã đọc không có dữ liệu thuốc diệt cỏ. Sherwood Forest (từ 19/1/1965) thả ~800 tấn bom lên 76 km² Bời Lời rồi 40 phi vụ C-123 phun ~33.000 gallon (22–27/1) trước khi đốt rừng thất bại (Wikipedia: Boi Loi Woods, dẫn Kelley 2002 và Birtle 2024); Buckingham Operation Ranch Hand (OAFH 1982) và băng HERBS chưa tiếp cận. B-52: Crimp có đợt dọn trước; Cedar Falls năm đợt trong khu vực Sư đoàn 25; 9/1967 2/14th đánh giá hậu quả một đợt B-52 ngay nam Hố Bò (Stars and Stripes 2021); 3/1968 không kích làm lộ cửa hầm chứa 12 hoả tiễn 122 mm (TLN 3-15); Le Gro (CMH 1985) tả Hố Bò 1973 "lỗ chỗ hàng dãy hố bom" B-52 (Wikipedia: Hố Bò woods dẫn Le Gro). Không tìm được tổng số phi vụ Arc Light cho quận; MACV Command History 1969 (DTIC ADA955261) và CHECO "The Defense of Saigon" bị chặn.

Mục 6

Sư đoàn 25 Tropic Lightning và căn cứ Củ Chi 1966–1970

Vị trí, "xây trên địa đạo", quy mô

Không nguồn ngoại quốc nào đọc được nêu tên sĩ quan chọn địa điểm Củ Chi; Carland và Traas (bị chặn) là nguồn kỳ vọng. Cơ sở sự kiện của câu chuyện "xây trên địa đạo" nằm trong chính hồ sơ sư đoàn: Sư đoàn 1 tìm thấy năm hệ thống hầm trước khi Lữ đoàn 2 chiếm đất (cuối 1/1966); 20 cụm hầm phá trong năm ngày đầu; TLN 4/3/1966 ghi "hàng trăm địa đạo đã bị vô hiệu hoá", có hệ thống ba tầng và bệnh viện ngầm bốn phòng (TLN 1-01); TLN 6/5/1966: "hơn 600 mạng địa đạo bên dưới Lữ đoàn 2" (TLN 1-10); TLN 15/7/1966, bài "How To Knock Out V.C. Tunnel System": hơn 400 địa đạo phá trong chu vi căn cứ rộng dưới hai dặm vuông, có hầm năm tầng, 65th Engineer tháo bẫy ở cửa rồi nổ dynamite hoặc C-4 — nhưng chất nổ chỉ bịt cửa, VC đào lại ngoài tầm nhìn — nên chuyển sang bịt mọi cửa trừ hai cửa xa nhất, bơm chất nổ hoá hơi bằng Mighty Mite và đốt (TLN 1-20). Sau giữa 1966 các ORLL không còn nhắc hầm trong căn cứ; mối đe doạ bên trong hàng rào được xử lý như vấn đề nhân lực: 25th MP Co sàng "hơn 1.000 công nhân Việt Nam mỗi ngày" ở cổng chính (TLN 7/1966); trại giam có sáu điệp viên VC xác nhận (TLN 9/1966) (TLN 1-30).

Kích thước: "dưới hai dặm vuông" (7/1966); đường băng nhựa 2.900 ft; lô cốt chu vi đánh số ít nhất đến 73 (nhật ký 1969); "3.500 toà nhà" khi bàn giao 12/1970 (DTIC AD0879681); Mangold & Penycate qua Chicago Tribune 1985: căn cứ 1.500 mẫu Anh, 4.500 người (STRASAM repost). Hai toạ độ bộ tư lệnh XT647153 và XT647143 kẹp tâm căn cứ trên ranh Hậu Nghĩa/Bình Dương; hồ sơ VVMF cho người chết trong vụ nổ nhà ăn 3/1/1969 ghi tỉnh là Bình Dương (VVMF, Glenn E. Case). Huckaby (LRRP, D/3-4 Cav) tả địa điểm là ruộng đậu phộng gọi là "Hells Half Acre", 65th Engineers đào hào quanh, nước từ lister bag, đường bụi thành bùn mùa mưa, đêm đầu ngủ dưới hào vì đạn cối (Centaurs "Cu Chi 66").

Đơn vị và sinh hoạt

Westmoreland (COMUSMACV) và Weyand xem các tấm biển tại căn cứ Củ ChiWestmoreland (COMUSMACV) và Weyand xem các tấm biển tại căn cứ Củ Chi
Quân y Sư đoàn 25 khám cho một em gái — chương trình MEDCAPQuân y Sư đoàn 25 khám cho một em gái — chương trình MEDCAP
Hình 17 Đến giữa tháng 7/1968 sư đoàn đã chạy 59 chiến dịch và báo hơn 404.000 lượt người Việt được khám trong MEDCAP.Wikimedia Commons · SPC Peter P. Ruplenas · Public domain · PFC Thomas L. Larsen · Public domain

Theo trang "Associated Units" của hội cựu binh và Stanton: bộ tư lệnh sư đoàn 1/1966–(2/1970 theo Stanton; thực tế đến 12/1970 theo ORLL); 1/8, 7/11, 3/13 Arty; 2/32 Arty; 65th Engineer Bn; 12th Evacuation Hospital (đến Củ Chi 9/9/1966, hoạt động 12/1966–15/12/1970, "khoảng 37.000 bệnh nhân"); 7th Surgical Hospital 8/1966–4/1967; 269th Aviation Bn 28/1/1967–15/4/1971 với 116th AHC, 188th AHC, 242nd ASHC (CH-47, tại Củ Chi từ 11/1967); 554th Engineer Bn đến 14/4/1967 và ở lại sau khi sư đoàn rút, đi 1/3/1972; 2nd Bde 101st Abn 2–10/1968; 3rd Bde 101st 7–9/1968 (25thida.org Associated Units; Wikipedia: Củ Chi Base Camp). Orientation Edition của TLN (giữa 1968): Lữ đoàn 2 đổ bộ Vũng Tàu 15/1/1966, bay lên Biên Hoà, đoàn xe hơn 600 chiếc lên Củ Chi "20 dặm tây bắc Sài Gòn", "nơi trú ẩn cũ của Việt Cộng ở tỉnh Hậu Nghĩa"; tiện nghi: sân bay có chuyến bay định kỳ, PX, Education Center, Ilikai East Service Club, EM Club, bảo tàng sư đoàn, hồ bơi, Helping Hand Center, Red Cross; đến giữa 7/1968 sư đoàn đã chạy 59 chiến dịch và báo hơn 17.000 VC/NVA chết, gần 900 tù binh, hơn 4.600 Hồi Chánh, 404.000+ người Việt được khám trong MEDCAP (TLN Orientation Edition). ORLL 4/1968: 459 đoàn xe Củ Chi–Sài Gòn trong quý; 59.400 lb nước uống/ngày; 10.226 lượt tắm dã chiến; máy dò địa chấn hầm thử 26/3–4/4/1968 bị loại; 32 người học phá địa đạo (DTIC AD0392127). Bob Hope diễn ở "Lightning Bowl" 25/12/1966 (hơn 13.000 người, gọi căn cứ là "Zap City"), 12/1967 (gần 10.000, máy bay bị bắn khi rời Củ Chi), 12/1968 (~15.000) và 21/12/1969 (TLN 1-45; TLN 3-03; TLN 4-02; TLN 5-01).

Tổn thất theo quý và địch trong quận

Thống kê sư đoàn chép lại trong lịch sử 1/5 Mech từ ORLL: quý kết thúc 31/1/1968: 344 chết, 1.259 bị thương; 1/2–30/4/1968: 520/1.641; 1/5–31/7/1968: 345/1.424; 1/11/1968–31/1/1969: 236/3.955 (669 tản thương); 1/2–30/4/1969: 308/2.910; 1/5–31/7/1969: 179/2.070; 1/8–31/10/1969: 87/1.107 (Bobcats 1968; Bobcats 1969). Bước nhảy WIA từ ~1.400 lên 3.955 nhiều khả năng do đổi cách đếm (gồm thương nhẹ không tản); chuỗi không nhất quán nội tại. ORLL 4/1968 cho Saratoga 374 chết / 1.855 bị thương / 3.836 địch chết; Quyết Thắng 50 / 396 / 729; Yellowstone (Chiến khu C) 137 / 1.085 / 1.170 (DTIC AD0392127). Kirkus (về Bergerud 1993) ghi sư đoàn mất 5.000 người 1966–1971 (Kirkus); không tìm được tổng chính thức.

TỔN THẤT SƯ ĐOÀN 25 THEO QUÝ, CHÉP TỪ ORLLHai thang đo riêng, không gộp trục. Vạch đứt = quý không có số trong nguồn đã đọc.CHẾT01402804205601/1–30/4/1966 — chết 91911/5–31/7/1966 — chết 1321321/8–31/10/1966 — chết 7979quý kết thúc 31/1/1968 — chết 3443441/2–30/4/1968 — chết 5205201/5–31/7/1968 — chết 3453451/11/1968–31/1/1969 — chết 2362361/2–30/4/1969 — chết 3083081/5–31/7/1969 — chết 1791791/8–31/10/1969 — chết 8787196619681968–69BỊ THƯƠNG01.0502.1003.1504.2001/1–30/4/1966 — bị thương 9149141/5–31/7/1966 — bị thương 12391.2391/8–31/10/1966 — bị thương 845845quý kết thúc 31/1/1968 — bị thương 12591.2591/2–30/4/1968 — bị thương 16411.6411/5–31/7/1968 — bị thương 14241.4241/11/1968–31/1/1969 — bị thương 39553.9551/2–30/4/1969 — bị thương 29102.9101/5–31/7/1969 — bị thương 20702.0701/8–31/10/1969 — bị thương 11071.107196619681968–69Bước nhảy số bị thương từ ~1.400 lên 3.955 ở quý 11/1968–1/1969: văn bản ghi “nhiều khả năng do đổi cách đếm (gồm thương nhẹkhông tản); chuỗi không nhất quán nội tại” — 669 trong số đó được tản thương. Kirkus ghi sư đoàn mất 5.000 người 1966–1971;không tìm được tổng chính thức. Nguồn: lịch sử 1/5 Mech chép từ ORLL — mục 6.
Hình 18 Tổn thất Sư đoàn 25 theo quý, chép từ ORLL vào lịch sử Tiểu đoàn 1/5 Cơ giới.Dựng theo mục 6.

Trật tự địch trong quận theo hồ sơ sư đoàn chuyển từ đơn vị địa phương/Quân khu IV (1966–1967: Tiểu đoàn 7 Củ Chi, Trung đoàn 165A, Tiểu đoàn 1 và 7 MR IV, D-14, Tiểu đoàn 2 Gò Môn, Tiểu đoàn 269) sang trung đoàn chủ lực đi qua (272 ở Ấp Chợ 2/1968; 101 QĐNDVN ở Filhol từ 12/1967; 271, 268, Trung đoàn Quyết Thắng/SR-1 1969–1970). ORLL 1/1970: sổ tay bắt được cho thấy Trung đoàn 268 lên kế hoạch đánh các cơ sở vùng Củ Chi; tù binh 6/12/1969 cách Củ Chi 4 km thuộc Đại đội 3, Tiểu đoàn 1, Trung đoàn Quyết Thắng (SR-1) đi lấy gạo; "Citadel"–Trảng Bàng–Trung Lập là trung tâm hoạt động địch; tháng 11/1969 mìn và bẫy làm 11 Mỹ chết, 107 bị thương; tháng 11 sư đoàn cộng 3rd Bde 9th ID báo 1.106 địch chết, 72 tù binh, 455 Hồi Chánh (DTIC AD0509705). ORLL 7/1970 — lời kể người Việt qua nguồn ngoại quốc: một đại uý Trung đoàn Quyết Thắng ra hồi chánh 1/5/1970 nói trung đoàn có ba tiểu đoàn mỗi tiểu đoàn chỉ 60–65 người, nhiệm vụ phá bình định; SR-1 có 12 ban hậu cần thiếu thốn trầm trọng (DTIC AD0514626).

Các vụ tấn công căn cứ 1966–1970

Chuỗi được ghi: bị cối lần đầu 6/1966; đêm 26/7/1966 206 đạn 75 mm không giật và cối 82 mm (Bobcats 1966); 13/7/1967 16 đạn cối, 15 bị thương; 4/9/1967 lúc 1925 đợt cối thứ sáu, ít nhất 12 đạn, 7 bị thương, vị trí bắn ~3.000 m bắc (TLN 2-37); 19/1/1968 48 đạn cối và không giật, 3 chết, 45 bị thương (TLN 3-06); 0320 ngày 31/1/1968 10 hoả tiễn 122 mm và 200 đạn cối, 1 chết, 28 bị thương (720th MP); 2/2/1968 cối trúng kho đạn 4/23rd, nổ dây chuyền phá khu 1/5 Mech (Bobcats 1968); CIA 3/2/1968 ghi căn cứ bị bắn lần thứ ba trong tuần với ~100 đạn (CIA Situation No. 11); 20/4/1968 bảy hoả tiễn 122 mm, 24 bị thương; 9/5/1968 30 hoả tiễn, 7 chết, 40 bị thương (DTIC AD0395425); 6/11/1968 13 đạn cối, 6 bị thương (DTIC AD0502976); 3/1/1969 bom trong nhà ăn giết 15 Mỹ (phần lớn 554th Engineer) và 2 nhân viên bếp Việt Nam; 21/5/1969 1/5 Mech và một đại đội RF bắt ở ấp Giồng Việc một y tá VC từng làm cho 554th, chỉ ra ba phụ nữ làm trong căn cứ đã gài mìn (lời kể người Việt qua nguồn ngoại quốc) (VVMF, Case); 26/2/1969 đặc công (chi tiết ở mục 8); không ghi nhận tấn công nào vào căn cứ 11/1969–5/1970 trong ORLL, trong khi Tây Ninh bị pháo nhiều lần.

CÁC VỤ TẤN CÔNG VÀO CĂN CỨ CỦ CHI, 1966–1970ORLL không ghi nhận vụ tấn công nào vào căn cứ từ 11/1969 đến 5/1970, trong khi Tây Ninh bị pháo nhiều lần.CHẾTBỊ THƯƠNG6/1966bị cối lần đầu26/7/1966206 đạn 75 mm không giật và cối 82 mm13/7/196716 đạn cối 82 mm lúc 213513/7/1967 — 15 bị thương154/9/1967đợt cối thứ sáu, ít nhất 12 đạn4/9/1967 — 7 bị thương719/1/196848 đạn cối và không giật19/1/1968 — 3 chết319/1/1968 — 45 bị thương4531/1/196810 hoả tiễn 122 mm và 200 đạn cối, 032031/1/1968 — 1 chết131/1/1968 — 28 bị thương282/2/1968cối trúng kho đạn 4/23rd, nổ dây chuyền20/4/1968bảy hoả tiễn 122 mm20/4/1968 — 24 bị thương249/5/196830 hoả tiễn9/5/1968 — 7 chết79/5/1968 — 40 bị thương406/11/196813 đạn cối6/11/1968 — 6 bị thương63/1/1969bom trong nhà ăn3/1/1969 — 17 chết1726/2/1969đặc công vào bên trong hàng rào26/2/1969 — 14 chết1426/2/1969 — 74 bị thương743/1/1969: 15 người Mỹ (phần lớn 554th Engineer) và 2 nhân viên bếp Việt Nam. 26/2/1969: số theo nhật ký G3 lúc 2340 và nhật kýy tế đến trưa; mười hai nguồn khác cho mười hai bộ số khác — xem mục 11. Nguồn: mục 6.
Hình 19 Chuỗi các vụ tấn công vào căn cứ Củ Chi được ghi lại, 1966–1970.Dựng theo mục 6.

Chỉ huy

Tư lệnh sư đoàn tại Củ Chi: Weyand 1964–3/1967 (sau là tư lệnh II FFV, cố vấn Lodge ở Paris 1969, COMUSMACV 1972–1973, Tham mưu trưởng Lục quân 1974–1976; câu nói ẩn danh 8/1967 với Apple về "bế tắc"), Tillson 1967, Mearns 1967–1968, Williamson 1968–1969, Hollis 1969–1970, Bautz 1970–1971; BG J. R. Thurman III ký báo cáo Keystone Robin Bravo 15/12/1970 (25thida.org Commanding Generals; Wikipedia: Weyand). Senior Officer Debriefing Reports: AD0513164 (30/7/1967–20/3/1969), AD0505393 (Williamson, 3/8/1968–15/9/1969: đội chống VCI "làm tổn hại nặng" hạ tầng VC ở Hậu Nghĩa; Lữ đoàn 2 và 3 phủ Hậu Nghĩa với ranh tiểu đoàn theo ranh quận), AD0509875 (Hollis), AD0514361 (archive.org DTIC_AD0505393 OCR). Quỹ Marshall giữ bản giấy của các debrief này (hộp 7) (Marshall Foundation finding aid).

Rút quân và bàn giao 1970

AAR Keystone Robin Bravo (HQ 25th ID, 15/12/1970, DTIC AD0879681): các tiểu đoàn đứng xuống tại Củ Chi suốt 11/1970; 1/27 (-) bảo vệ căn cứ; đến 18/11 sư đoàn chỉ còn Củ Chi và vùng nhỏ xung quanh; PX đóng 4/12, bất động sản chuyển 6/12; "3.500 toà nhà" bàn giao từng khu cho Sư đoàn 25 ARVN trong 11 ngày, khu cuối 15/12/1970, ngày nhân viên Mỹ rời Củ Chi (DTIC AD0879681). TLN 30/11/1970 ghi lễ đứng xuống của 2/27th ở "zero strength" và lời Bautz về "đạt được nhiệm vụ đã đề ra" (TLN 5-46). Lịch sử hội: thân chính rời Việt Nam 8/12/1970 ở cấp đội cờ về Schofield Barracks; Lữ đoàn 2 ở lại dưới II FFV vùng Long Bình–Xuân Lộc đến 30/4/1971; 1.716 ngày, 12 chiến dịch, 21 Medal of Honor (25thida.org Division history). Mâu thuẫn: Wikipedia/Stanton ghi bộ tư lệnh rời Củ Chi "2/1970" và ARVN tiếp quản "1972"; các ORLL 4/1970, 7/1970 và AAR 12/1970 đều đề "Cu Chi Base Camp". Sư đoàn 25 ARVN chuyển bộ tư lệnh vào căn cứ 13/12/1970 (GlobalSecurity).

Mục 7

Chuột địa đạo Úc và Mỹ

MẶT CẮT ĐỊA ĐẠO THEO SỐ ĐO TRONG NGUỒN NGOẠI QUỐCDựng từ bảng “Kích thước hầm theo nguồn” ở mục 11 và các chi tiết kỹ thuật ở mục 7 và 10.Sơ đồ khái lược: số tầng và độ sâu theo nguồn, bố trí hành lang là minh hoạ.CỬA SẬP NGUỴ TRANGcửa cách nhau 40–50 m (Almodovar & Rogers)ỐNG THÔNG HƠI“thông hơi qua 10–12 m đất” (The Cove)ĐỘ SÂU0 m3 m6 m10 m12 m15 m20 mtầng đào được:laterit 10–20 m(Almodovar& Rogers)bệnh viện ngầm~ba tầng, có đènkho / bếpsở chỉ huymáy ảnh, máy inbẫy nướcmỗi ~100 mTẦNG 1~5 ft dưới mặt đất(cựu binh 1st Engineer, VVMF)TẦNG 2rồi 10–12 ft; TLN 9/1966ghi “chủ yếu hai tầng”TẦNG 3Haldane: ba tầng dưới cửa sập1/28th; Planet Wissen: tới 10 mTẦNG 4Kipapa 9/1966 tại XT 704206;McAulay: “tới mực nước ngầm”MẶT ĐẤTMỰC NƯỚC NGẦMmực nước ngầm — Weyand nói căn cứ Củ Chi được chọn vì cách mực nước ngầm 12 m (Mangold & Penycate)TIẾT DIỆN HÀNH LANG — SỐ ĐO CỦA NGƯỜI THAM GIAThe CoveLục quân Úc60 × 75 cmNMUSA / khu tham quan“chủ yếu 2 ft × 3 ft”61 × 91 cmTLN 9/1966~4 ft × 3 ft122 × 91 cmAlmodovar & Rogers0,8–1,2 m × 0,8–1,8 m120 × 180 cm165 cmMục 11: số đo của người tham gia “khớp nhau vàkhớp với việc chọn người dưới 165 cm”. Số0,8–1,2 m trong slide kỹ thuật là ngoại lệ.
Hình 20 Mặt cắt địa đạo dựng từ các số đo trong nguồn ngoại quốc: số tầng, độ sâu, tiết diện hành lang.Dựng theo mục 7, 10 và bảng “Kích thước hầm theo nguồn” ở mục 11.

3 Field Troop RAE và Operation Crimp

1 RAR và 3 Field Troop RAE, thuộc 173rd Airborne Brigade, đổ xuống ngay trên một phức hợp hầm nhiều tầng ở Hố Bò ngày 8/1/1966. Bộ Quốc phòng Úc (1/2025): lính bắn tỉa giết hai người Úc và làm bị thương hai trong lần chạm đầu; Sapper Alan Christie lần theo vết máu ~200 m và thu khẩu Mosin-Nagant (Defence 17/1/2025). Trang chuyên môn của Lục quân Úc (The Cove): 3 Field Troop được giao dọn đường và gỡ mìn, không được huấn luyện vào hầm, không có bài học nào từ Pháp, ARVN hay Mỹ truyền lại; sapper chui vào hầm rộng ~60 cm cao ~75 cm, không ánh sáng, gần như không khí, với đèn pin và lưỡi lê; phức hợp sau này được nhận ra là bộ tư lệnh cho các hoạt động chống Sài Gòn, Biên Hoà và các tỉnh quanh, điều không ai nhận ra lúc đó; toàn bộ quy mô chưa bao giờ được thăm dò; sáu ca ngạt (một chết, năm bị thương) do hơi cay và khói từ máy Mighty Mite mới phát mà không tái cấp oxy (The Cove). MacGregor cho lính bắn phương vị la bàn và đo khoảng cách bằng dây điện thoại tới mỗi ngã rẽ; ông xuống trước với đèn và súng ngắn, trung sĩ buộc dây vào chân; mapping bốn ngày; "hơn 100.000 mảnh giấy" (Wikipedia: Sandy MacGregor, dẫn Ham 2007). Phỏng vấn phim AWM F10652 (1992): lúc đầu người được thả đầu xuống trước với đèn một tay, lưỡi lê tay kia; sau gắn đèn thợ mỏ lên mũ để rảnh tay cầm súng; hơi và khói dùng để dọn cửa để lại khí làm người ngất và khó kéo lùi ra; không người Úc nào bị bắn dưới hầm, một người chết ngạt; đoàn bị rút ra trong khi còn một cửa có vẻ dẫn xuống tầng dưới (AWM F10652). Bài học MacGregor đúc kết (2025): "KHÔNG DÙNG KHÓI TRỪ KHI KHÔNG LỤC SOÁT HẦM" (CONTACT). Sapper Dennis Ayoub (F10653): ở dưới như vừa điếc vừa mù và sợ chết; VC làm "công nghiệp gia đình" bẫy và mìn dưới hầm; rõ ràng có nhiều hầm hơn khả năng vô hiệu hoá trước khi rút (AWM F10653).

Xuống hầm với đèn pin và súng ngắnXuống hầm với đèn pin và súng ngắn
Lính B/1/28th Inf trong một địa đạoLính B/1/28th Inf trong một địa đạo
Lính Úc tại Crimp, 1/1966Lính Úc tại Crimp, 1/1966
Hình 21 “Sapper chui vào hầm rộng ~60 cm cao ~75 cm, không ánh sáng, gần như không khí, với đèn pin và lưỡi lê.” — trang chuyên môn của Lục quân Úc.Wikimedia Commons · Public domain · PFC Robert C. Lafoon · Public domain · Marshall, S.L.A. · Public domain

Cpl Robert Walter Bowtell (213151, 184 cm, thợ mộc từ Blue Mountains) chết ngạt ngày 11/1/1966 khi kẹt trong cửa sập sàn sau khi khói và hơi cay được thổi vào, mặt nạ tuột; Private Jim Daly chui vào cứu bốn lần; chôn ở Terendak, Malaysia; AWM, Lục quân và hội Tunnel Rats ghi 11/1, Wikipedia (dẫn McNeill/McAulay) ghi 12/1 (AWM Last Post AWM2016.2.11; Places of Pride; Honour roll). Ông là người Úc duy nhất chết trong địa đạo Củ Chi. MacGregor nhận Military Cross vì lãnh đạo và dũng cảm dẫn lính vào hầm, đi ngược thông lệ bịt hoặc xông hơi; đây là huân chương dũng cảm Úc duy nhất gắn với Củ Chi; năm Military Medal khác của chuột địa đạo Úc đều thuộc Phước Tuy (Regimental Books; Medal winners). Tại họp báo Sài Gòn, MacGregor gọi lính mình là "ferrets"; một nhà báo Mỹ đổi thành "tunnel rats" (Wikipedia: Sandy MacGregor). Tuyên bố "lính Đồng minh đầu tiên vào địa đạo Củ Chi" (Thomson, AWM) bị chính Jim Marett của hội Tunnel Rats phản bác năm 2022, liệt kê các lần ARVN và Mỹ vào hầm Tam giác Sắt/Hố Bò 1964–1965 và gọi Crimp là lần thứ tư có ghi chép (CONTACT comments). Hiện vật 3 Field Troop thu ở hầm Crimp tại AWM: vỏ đạn AK-47 REL35994.001, hai mảnh đá REL35994.002, dép cao su REL35992, túi la bàn Liên Xô REL35976.002, ba lô VC REL43475/43476 (AWM C1232398); ảnh Peter Kelly KEL/66/00xx/VN (AWM KEL/66/0024/VN). Hội Vietnam Tunnel Rats Association (~700 người thuộc 3 Field Troop và 1, 2, 3 Troop của 1 Field Squadron) ghi 35 sapper chết ở Việt Nam, ~200 bị thương, tỷ lệ "36%", nhưng chủ yếu từ mìn ở Phước Tuy, không phải Củ Chi (tunnelrats.com.au; The Cove).

Tiếp nhận và biến đổi ở phía Mỹ

Sgt. Ronald A. Payne kiểm tra một cửa hầm, Cedar Falls 1967Sgt. Ronald A. Payne kiểm tra một cửa hầm, Cedar Falls 1967
Payne chui xuống, 1967Payne chui xuống, 1967
Bên trong một địa đạoBên trong một địa đạo
Hình 22 Đội chuột địa đạo Mỹ ở Cedar Falls gồm 6–10 người của 242d Chemical Detachment và 1st Engineer Battalion, với súng ngắn giảm thanh, “skull mike”, la bàn và máy thổi Mighty Mite.Wikimedia Commons · Photographer SP4 Robert C. Lafoon, Department of the Army Special Photo Office · Public domain · Public domain · Howard C. Breedlove, SSG, Photographer; US Army Signal Corps · Public domain

Nguồn Mỹ không ghi công người Úc bằng tên. AWM và MacGregor nói Westmoreland/Williamson ra lệnh lục soát mọi hầm sau Crimp (AWM REL35994.002); phía Mỹ kể câu chuyện từ dưới lên: Capt. Herbert Thornton, sĩ quan Hoá học Sư đoàn 1, lập đội tình nguyện năm 1966 sau khi hơi, chó và chất nổ đơn thuần thất bại; Thornton và Sgt. Robert "Batman" Batten nằm trong danh sách truy nã của VC; "khoảng 100 chuột địa đạo Lục quân" cả cuộc chiến; tháng 8/1968 đội này giết 3 VC và bắt 153 (NMUSA). Mangold & Penycate: "thất bại chó" dẫn đến đơn vị người 1966; "chưa bao giờ hơn 100 Tunnel Rats"; Capt Jack Flowers ("Rat Six") chỉ huy đội Sư đoàn 1 năm 1969, vào 97 hố (STRASAM/Chicago Tribune 1985). Đến Cedar Falls đội 6–10 người của 242d Chemical Detachment và 1st Engineer Bn (Rogers ch. VI); sau Cedar Falls nhiệm vụ chuyển hẳn sang 1st Engineer Bn "Diehards"; Batten lập quy trình và ở lại ~3 năm; Earle "Hap" Culp nhận đội 6/1968; Pete Schultz hai Silver Star; một bệnh viện ngầm chạy máy phát đạp xe; một phức hợp bệnh viện ~ba tầng với đèn và thông gió; Lục quân sau lập trường chính thức về hầm, mìn, bẫy (VVMF Echoes EP53; EP54). Rottman: tình nguyện đầu tiên gọi là "tunnel runners", người Úc gọi "tunnel ferrets", sau chính thức hoá thành "tunnel exploitation and denial teams" 4–6 người, khẩu hiệu "Non Gratum Anus Rodentum" (Osprey Warrior 161). Sư đoàn 25: đội đầu gọi "Tunnel Runners"; nhận bộ dụng cụ thám hiểm hầm tại Củ Chi (1 Field Squadron Group, Tunnel Rats); chương trình huấn luyện chuột địa đạo tại căn cứ Củ Chi chỉ được chứng thực qua tài liệu dẫn Mangold & Penycate (Almodovar & Rogers); ORLL ghi 40 người học phá địa đạo 5–6/1967 và 32 người đầu 1968; ảnh của SP5 Robert C. Lafoon (1967) chụp tiểu đội trưởng Sư đoàn 25 với đèn pin và .45 trong hầm Củ Chi (Pritzker); 1st Engineer Bn "Diehards" cũng làm chuột địa đạo ở quận Củ Chi năm 1969 (Wikipedia: Tunnel rat). Không tìm được hồi ký nào của chuột địa đạo Sư đoàn 25 ở Củ Chi.

Trang bị và học thuyết

CHUỖI HỌC THUYẾT CHỐNG ĐỊA ĐẠO, 1965–1969“Mọi bước trừ pamphlet 1968 đều thử nghiệm tại Củ Chi / Tam giác Sắt.”1965Thử nghiệm Bureau ofMineskhí MAPP, bột nhôm, PETN tronghầm thử — không lan đủ xathất bại1/1966Crimp: khói và hơicay CSmáy bơm không đẩy nổi nắp hầm;37 lựu đạn khói không cho chỉdấu;sáu ca ngạt ở 3 Field Troop,một người chếtthất bại1966Kit Limited WarLaboratory + độiThornton.38 giảm thanh; sáu bộ thửnghiệm rồi hơn 450 bộ;Sư đoàn 1 lập đội tình nguyệnsau khi hơi, chó và chất nổđơn thuần thất bạichuyển hướng1/1967Cedar Falls:acetylene + chất nổ,đội 6–10 người242d Chemical Detachment và1st Engineer Bn; súng ngắngiảm thanh,“skull mike”, la bàn, MightyMite; vẽ bản đồ khi điđịnh hình12/1968Pamphlet MACV “HoleHuntin’”bốn bước: bắn vào cửa sập —gọi hàng — lựu đạn — đưa“tunnel rat” vào(soạn từ 2/35th Inf ở IICorps, không phải Củ Chi)thành văn1969QSPRAAI “Tunnel Weapon” S&W .44bắn đạn piston kín; 10 khẩugửi 1969;tinh chỉnh 1970–1972 nhưngkhông phát rộngkhông phát rộngCHUỖI RIÊNG CỦA SƯ ĐOÀN 25, XÂU LẠI TỪ CÁC ORLLMighty Mite khói (1966)→bơm chất nổ hoá hơi (1966)→rải CS trước khi phá (ORLL 7/1967)→bơm nước ngập và thuốc nhuộm (ORLL 10/1967; Atlanta 12/1967)→acetylene + chất nổ (Cedar Falls)→Rome Plow bóc rừng (9/1967–1/1969)Nguồn: mục 5 “Nhận định chung của sư đoàn về kỹ thuật” và mục 7 “Trang bị và học thuyết”.
Hình 23 Chuỗi học thuyết chống địa đạo 1965–1969, và chuỗi kỹ thuật riêng của Sư đoàn 25.Dựng theo mục 5 và 7.

Limited War Laboratory làm bộ kit 1966 với .38 giảm thanh, sáu bộ thử nghiệm, rồi yêu cầu hơn 450 bộ; kit tiếp theo (Tunnel Security and Intelligence Team Protective Equipment) dùng .22 High Standard giảm thanh, đến Việt Nam 5/1968; AAI chế "Tunnel Weapon" S&W .44 bắn đạn piston kín 15 viên tungsten, 10 khẩu và gần 1.000 viên gửi 1969, cấp cho Sư đoàn 1, 23, 25 và LRRP; tinh chỉnh thành QSPR 1970–1972 nhưng không phát rộng (Small Arms Defense Journal). Pamphlet MACV MACJ3-053 "Hole Huntin'" (20/12/1968, từ 2/35th Inf ở II Corps, không phải Củ Chi) mã hoá bốn bước: bắn vào cửa sập, gọi hàng bằng tiếng Anh và Việt, lựu đạn, rồi đưa "tunnel rat" vào (DTIC AD0683375). USACE Historical Vignette 062 (2003) tóm tắt: Củ Chi là nơi tập trung chính; hầm cấp tiểu đội dưới 6 ft sâu, ~100 ft dài, cấp tiểu đoàn tới ~50 ft với bốn tầng; cơ giới chỉ tới hầm nông, ngập nước thất bại vì giếng sâu, acetylene hiệu quả nhất dưới 7 ft lớp phủ (4 yard khối hỗn hợp phá hơn 50 yard khối hầm), việc địch dùng hầm "chưa bao giờ bị loại trừ hoàn toàn" (USACE 062). Dvorznak (Bureau of Mines) kể thử nghiệm 1965 cho Lục quân với khí MAPP, bột nhôm, PETN trong hầm thử, không lan đủ xa (Veterans Breakfast Club). Chuỗi học thuyết: thử nghiệm 1965 thất bại → Crimp với khói/CS thất bại và người Úc ngạt → kit LWL 1966 và đội Thornton → Cedar Falls 1/1967 (acetylene + chất nổ, thổi khí, đội 6–10 người, vẽ bản đồ) → pamphlet MACV 1968 → QSPR 1969. Mọi bước trừ pamphlet 1968 đều thử nghiệm tại Củ Chi/Tam giác Sắt.

UH-1 của 25th Aviation chất bình hơi cay CSUH-1 của 25th Aviation chất bình hơi cay CS
Lightning Mines, Boobytraps and Tunnel Training Center tại căn cứ Củ ChiLightning Mines, Boobytraps and Tunnel Training Center tại căn cứ Củ Chi
Lính bổ sung học về mìn và bẫyLính bổ sung học về mìn và bẫy
Hình 24 Hơi cay, trường huấn luyện và lính bổ sung. ORLL ghi 40 người học phá địa đạo trong 5–6/1967 và 32 người đầu năm 1968.Wikimedia Commons · NARA photo 111-CCV-612-SC652898 by SP5 D.R. Goff · Public domain · PFC Thomas L. Larsen · Public domain
Mục 8

Tết 1968 và giai đoạn 1968–1975

Trước Tết: Bàu Trai 10/1967 và 8/1/1968

ORLL 10/1967 ghi tấn công Đức Hoà và Bàu Trai ngày 16/10/1967 (DTIC AD0388381); chú thích của Ellsberg trong Secrets nói tư lệnh Sư đoàn 25 ARVN nghỉ bệnh cuối 1967 "sau khi VC tràn tỉnh lỵ Hậu Nghĩa" (ellsberg.net endnotes); CIA ghi ngày 8/1/1968 một cuộc tấn công cối ~600 quả vào tỉnh lỵ giết ba nhân viên dân sự Mỹ của CORDS, làm 15 bị thương (White memo; CIA Weekly Summary 12/1/1968); 10/1/1968 một tiểu đoàn VC đánh sở chỉ huy tiền phương một tiểu đoàn Mỹ ở Hậu Nghĩa, 5 Mỹ chết (CIA Bulletin 11/1/1968). Các nguồn không thống nhất Bàu Trai bị "tràn" hay chỉ bị tấn công; CIA 17/12/1967 ghi trận CIDG ở Hậu Nghĩa với 4 trực thăng rơi và Tiểu đoàn 269 có súng phòng không 12,8 mm (CIA 01001207).

Tết 1968 ở thị trấn Củ Chi, Ấp Chợ, Tân Phú Trung

Hồ sơ 720th MP dẫn AAR của II Field Force: 0110 ngày 31/1/1968 "Tiểu đoàn 7 Mặt trận Giải phóng" tăng cường tấn công thị trấn Củ Chi và chi khu, vào khu MACV, mở nhà tù, đốt ~50% khu; RF/PF giữ với pháo ARVN và Mỹ; VC rút 1145, kết thúc 1830; 40 VC chết trong thị trấn, 25 ngoài; "trung tâm thị trấn thiệt hại dân sự nặng" (720th MP). CIA 13/2/1968 liệt kê Bàu Trai bị tấn công bởi các đại đội địa phương (ước 400), các quận lỵ Củ Chi, Đức Hoà, Đức Huệ bị tấn công mà không nhận dạng đơn vị (CIA Tet OB). TLN 26/2/1968 (bài của LT Bruce Burton): sáu tiểu đoàn giết "hơn 400 Việt Cộng" trong hai tuần dọc QL1; Ấp Chợ/Tân Phú Trung: 31/1 3/22nd dọn hai đại đội chặn đường (17 chết), chiến sự tái diễn ~2/2 khi đoàn xe Sài Gòn–Củ Chi cố đi qua, VC trong lô cốt bê tông, ước hai tiểu đoàn Trung đoàn 272, ít nhất 106 VC chết trong trận tám ngày, tổn thất Mỹ không nêu; 1/2 chi khu Củ Chi báo bị một tiểu đoàn VC tấn công, ba đại đội 22nd Inf đánh vào làng Củ Chi từ ba hướng trong ~5 giờ chiến đấu đường phố, địch là Tiểu đoàn 1 Trung đoàn chủ lực MR IV, ít nhất 12 chết, 21 bị giữ; 31/1 3/4 Cav chạy xuống QL1 về Tân Sơn Nhất, được ghi 292 chết (TLN 3-09). ORLL 4/1968: tại Ấp Chợ LAW và không giật 90 mm ít hiệu quả với lô cốt, một khẩu lựu pháo tự hành 8 inch bắn thẳng phá mỗi lô cốt một phát (DTIC AD0392127 OCR). TLN 11/3/1968: 3/22 "chiến đấu cực kỳ ác liệt" ở Tân Phú Trung; Hóc Môn "hư hại nặng"; trận sáu ngày ở Tân Hoà 2 km tây Củ Chi: 122 địch chết, 11 Mỹ chết (TLN 3-11). Không có dispatch dân sự nào đề ngày từ Củ Chi trong Tết 1968 được tìm thấy; số liệu dân sự ở thị trấn Củ Chi, Ấp Chợ, Tân Phú Trung chỉ có từ nguồn quân sự Mỹ.

Bình định sau Tết: CIA, Ellsberg, Vann

CIA, "Pacification in the Wake of the Tet Offensive" (19/3/1968): ở Hậu Nghĩa bình định "thực tế đã ngừng", nhiều đồn bị tràn hoặc bỏ, Đức Huệ bị địch giữ một tuần; Củ Chi là "quận bị đánh nặng nhất", các đơn vị VC lớn ngăn cán bộ RD về ấp; kết luận quốc gia: Tết phơi bày "sự dễ tổn thương và nông cạn" của các thành quả trước đó (CIA 00011824). CIA 27/2/1968: viên chức địa phương hầu hết đã trở lại làm việc trừ quận Củ Chi; uỷ ban phục hồi chưa thống nhất cách giúp ~2.800 người mất nhà; trong các cuộc tấn công phần lớn dân địa phương có vẻ hợp tác với VC; ít nhất năm đồn thất thủ do phản bội từ Tết (CIA 06786688). Báo cáo ICEX 23/2/1968: DIOCC Củ Chi và Đức Huệ "bị phá huỷ" (ICEX 00133905). Ellsberg 8/3/1968 gọi Tết là "cái chết của bình định như nó đã được quan niệm" (Ellsberg ELS024-007). Hồ sơ sư đoàn: "Colors Up" (phần của Accelerated Pacification Campaign) từ 11/1968 gán mỗi tiểu đoàn một quận, phối hợp quận trưởng, ARVN, RF/PF, phục kích đêm, dân vận trong "làng mục tiêu"; 2/14th từ FSB Keene chống VCI ở cụm Mỹ Hạnh–Đức Hoà–Bàu Trai (DTIC AD0502976); ORLL 10/1969: chỉ thị SR-1 cuối 7/1969 bắt được ra lệnh chống bình định tăng tốc bằng củng cố hội đồng cách mạng ở bắc Gia Định, Bến Cát, Trảng Bàng, Củ Chi, Hóc Môn; tháng 8/1969 sư đoàn + 3rd Bde 9th ID báo 298 VCI "accounted for"; mìn trên Hương lộ 6A gần Trung Lập 13/8/1969 giết 9 dân; claymore trong quán cà phê tây Củ Chi; thanh niên gần Trảng Bàng rời làng ban đêm để tránh bị VC bắt lính (archive.org DTIC_AD0508335 OCR). CIA 4/1969: đà bình định bị chặn ở Hậu Nghĩa bởi đợt tấn công 2/1969 nhưng ổn định lại đến 31/3/1969 (CIA 05015420). Vann, với tư cách phó CORDS III Corps, 2/4/1969: ~300 trong ~2.000 ấp III Corps bị liệt kê VC kiểm soát, hơn 200 ở Long An; ông gọi mở rộng sau Tết là "nhanh và mỏng" và so với chương trình ấp chiến lược 1962–1963 (Vann 1969). CIA 23/1/1970: Sư đoàn 25 ARVN (Hậu Nghĩa và Long An) bắt đầu cải thiện hè–thu 1969 sau khi hành quân phối hợp với Mỹ; ba sư đoàn ARVN ở III Corps thuộc hàng yếu nhất nước (CIA Vietnamization).

26/2/1969: đặc công đánh căn cứ Củ Chi

26/2/1969: ĐẶC CÔNG ĐÁNH CĂN CỨ CỦ CHISơ đồ khái lược dựng theo các mốc ghi trong hồ sơ chép lại trên VHPA. Không theo tỉ lệ.CĂN CỨ CỦ CHIhàng rào mười cuộn dâyĐƯỜNG BĂNG 04/22 — 2.900 ftchín CH-47A của 242nd ASHC bị phá64-13106 · 64-13146 · 65-08024 · 66-19012 → 66-19016 · 66-19022KHU “HOTEL”554th Engineers · phía đông namlô cốt 66 bị đánh sậpmemo 6/3/1969: 10 chết, 29 bị thươngcắt mười cuộn dây giữa lô cốt 69 và 70chạy dọc đường băngđốt ống POLFSB St. BarbaraFSB ReedFSB PattonNGHI BINH ĐỒNG THỜIDIỄN TIẾN THEO NHẬT KÝ ĐƠN VỊ0353–0400tấn công bắt đầu sau hoả tiễn/cối0630–0730bị dọn sạch0947vài người còn ẩn1430người cuối trong hầm tài chính2340nhật ký G3 tổng kết: 14 Mỹ chếtNguồn: VHPA “CuChi69.pdf” (biên soạn Constance Menefee); INTSUM 057/058; memo 554th Engineer 6/3/1969 — mục 8.
Hình 25 Trận đặc công đánh căn cứ Củ Chi rạng sáng 26/2/1969.Sơ đồ khái lược dựng theo hồ sơ chép lại trên VHPA; xem mục 8.

Hồ sơ gốc được chép lại trên trang VHPA ("CuChi69.pdf", biên soạn Constance Menefee; lịch sử 242nd ASHC do CW2 Lawrence M. Cain): tấn công bắt đầu 0353–0400 sau hoả tiễn/cối, đồng thời nghi binh vào FSB St. Barbara, Reed, Patton; đặc công theo nhóm ~11 người cắt mười cuộn dây giữa lô cốt 69 và 70, đánh sập lô cốt 66 ở khu "Hotel" (554th Engineers) phía đông nam, chạy dọc đường băng phá chín CH-47A của 242nd ASHC (số đuôi 64-13106, 64-13146, 65-08024, 66-19012 đến 66-19016, 66-19022), đốt ống POL, bị dọn sạch 0630–0730, vài người còn ẩn đến 0947 và trong hầm tài chính lúc 1430; INTSUM 057: Mỹ 13 chết, 28 bị thương, địch 31 chết, 8 tù binh; nhật ký G3 tổng kết 2340: 14 Mỹ chết; nhật ký y tế đến trưa: 74 bị thương; INTSUM 058 nhận dạng từ tù binh Tiểu đoàn Đặc công 3 (~300 người, từ Katum, Chiến khu C) do COSVN điều khiển, có nhắc B-16/D5 và 262 — lời kể người Việt qua nguồn ngoại quốc; memo 554th Engineer 6/3/1969 (1LT Zaus): 10 chết, 29 bị thương, 11 địch chết, 6 tù binh trong khu Hotel; The Times 27/2/1969: ~80 đặc công, 12 Chinook loại khỏi vòng chiến, 9 phá, phê phán cụm từ chính thức "thiệt hại vật chất nhẹ"; Facts on File: 13 chết, 50 bị thương (VHPA CuChi69.pdf; VHPA sapper.pdf). Roush (phi công 242nd): ~40 đặc công dùng bản đồ do một công nhân địa phương vẽ, một người mỗi Chinook ngủ trên máy bay trong "yellow alert", SP4 Isaac Stringer Jr. chết trên máy bay 66-19012; 14 Mỹ chết liệt kê tên (Virtual Wall, Stringer). Randle (116th AHC) ước "dưới 50, có lẽ khoảng 40" đặc công; Newsweek 10/3/1969 cho một đoạn (9 phá, 4 hỏng); báo chí "gần như bỏ sót" Tết 1969 (HistoryNet, Randle). TLN không đưa tin trong hai số 3 và 10/3/1969; số 17/3/1969 kể "tấn công ba mũi" bị đẩy lùi, 31 địch chết, 36 RPG, 125 bộc phá thu, không nêu người Mỹ chết hay trực thăng (TLN 4-11). ORLL sư đoàn cho quý này không tìm thấy trên DTIC; ORLL Div Arty (AD0504193) tham chiếu "inclosure 1" không có trong scan; phản ứng thể chế ghi lại: sửa dây, thêm pháo sáng bẫy, lớp ôn tập gác lô cốt hai giờ mỗi bốn ngày từ 28/2/1969 (DTIC AD0504193). Bảng mâu thuẫn số liệu ở mục 11.

Một trực thăng bị phá tại căn cứ Củ Chi, 1969. Chín chiếc CH-47A của 242nd ASHC bị phá trong đêm 26/2; *The Times* 27/2/1969 phê phán cụm từ chính thức “thiệt hại vật chất nhẹ”.
Hình 26 Một trực thăng bị phá tại căn cứ Củ Chi, 1969. Chín chiếc CH-47A của 242nd ASHC bị phá trong đêm 26/2; *The Times* 27/2/1969 phê phán cụm từ chính thức “thiệt hại vật chất nhẹ”.Wikimedia Commons · US Army · Public domain

1969–1970: Phú Hoà Đông, Trung Lập, "Citadel"

TLN 17/3/1969: lực lượng hỗn hợp Mỹ–ARVN của Lữ đoàn 2 tại Phú Hoà Đông, "điểm nóng VC lâu năm", phá 658 địa đạo, thẩm vấn hơn 9.000 dân, bắt 45 nghi can (TLN 4-11); 10/3/1969: MEDCAP chụp X-quang lao ở Củ Chi, chương trình chân tay giả cho ba quận Hậu Nghĩa (TLN 4-10); 3/3/1969: B/65th Engineers mở đường tám dặm nam Trảng Bàng mà VC/NVA dùng để xâm nhập từ 1961, hoàn thành trong 21 ngày (TLN 4-09). Lịch sử 1/5 Mech 1969 liệt kê mìn và chạm súng theo toạ độ quanh Trung Lập, Trảng Bàng, Hố Bò, Filhol gần như hằng tuần, và tử vong tiểu đoàn theo tháng (1: 6, 2: 19, 3: 22, 4: 11…) (Bobcats 1969). ORLL 1/1970: Tổng thống Thiệu thăm căn cứ 22/12/1969, Hồng y Cooke làm lễ 23/12; 28/12 đặc công đánh NDP A/2/14th cách Trung Lập 8 km, 7 Mỹ chết; sư đoàn nhận 455 Hồi Chánh tháng 11/1969 (DTIC AD0509705). ORLL 4/1970: 16–17/3/1970 C/2-22 giết bảy địch trên đồn điền cao su 3 km đông nam Củ Chi (XT655122); tháng 2/1970 sư đoàn + 3rd Bde 9th ID "giết 489, bắt 36", Mỹ 11 chết, 230 mìn phá; tháng 3 "giết 553" (DTIC AD0512358). ORLL 7/1970: Lữ đoàn 3 phụ trách bình định Trảng Bàng và Củ Chi và khu Bàu Trai; phần lớn quý là Cambodia (DTIC AD0514626).

1971–1973: Bartlett và Herrington

Senior Officer Debriefing Report của LTC Gerald T. Bartlett, Province Senior Advisor Hậu Nghĩa, 19/5/1971–14/11/1972 (DTIC AD0523756, 25 trang): ~15.000 người tị nạn từ Campuchia (gốc Việt) định cư ở quận Củ Chi giữa 1971, đến cuối 1972 thành làng có chính quyền bầu; phần lớn ấp giữ hạng HES thấp vì hoạt động địch; ~30.000 nạn nhân chiến tranh được xử lý trong Nguyen Hue Offensive 1972; Trung đoàn 101 đánh khu dân cư Trảng Bàng từ căn cứ bên trong vùng hành quân ARVN; RF/PF tăng từ ~? đại đội RF, 77 trung đội PF, 14 MAT (5/1971) lên 3 tiểu đoàn RF, 5 Liên đội, ~33 đại đội RF, 117 trung đội PF (cuối 1972); Phụng Hoàng: trung hoà cao khi từ tình báo phản ứng, nhưng cấu trúc PIOCC/DIOCC/VIOCC "không vận hành được"; Cảnh sát Quốc gia phần lớn kém hiệu quả do tham nhũng (chỉ huy cảnh sát và cựu chỉ huy Đặc cảnh bị bắt); chương trình hiệu quả nhất là Phát triển Tự lực Xã, cán bộ RD, tín dụng nông thôn; không có số HES hay dân số cho Củ Chi (DTIC AD0523756; archive.org DTIC_AD0523756). Stuart Herrington, Silence Was a Weapon: The Vietnam War in the Villages (Presidio 1982; tái bản Stalking the Vietcong: Inside Operation Phoenix 1997): cố vấn tình báo quận Đức Huệ 2/1971–8/1972, chứng kiến một cô gái 19 tuổi bị trấn nước, chuyển sang biến tù binh thành người cung cấp tin; nội dung về Củ Chi (nếu có) chưa xác lập từ văn bản (Wikipedia: Herrington; WorldCat). Bảng "Population Control Map" của CIA 8/7/1972 có hàng Hậu Nghĩa nhưng OCR không đọc được (CIA 1972 map). Báo cáo tháng 4/1972 của Bartlett (TTU 1070105005) và các tổng quan CORDS MR 3 đầu 1972 bị chặn.

1973–1975

CIA 8/4/1974: lực lượng cộng sản duy trì áp lực lên các vị trí GVN ở Hậu Nghĩa nằm trên hành lang xâm nhập chính xuống đồng bằng; đồn Đức Huệ, Trảng Bàng, Củ Chi bị pháo và thăm dò; chỉ huy ARVN tin mục tiêu là cắt QL1 gần Trảng Bàng (CIA 1974). Theo Wikipedia (dẫn sử chính thức và Veith Black April): 0700 ngày 28/4/1975 Sư đoàn 316 QĐNDVN đánh QL1, QL22 và Trảng Bàng, pháo căn cứ Củ Chi; Trảng Bàng thất thủ 0300 ngày 29/4; 0500 hai trung đoàn Sư đoàn 320 đánh căn cứ Củ Chi, đến 1100 xe tăng xuyên qua, tướng Lý Tòng Bá bị bắt cùng ngày (Wikipedia: 25th Division (South Vietnam))); Peter Arnett, NYT 25/5/1975, "Blind panic of South Vietnamese Army in final hours of the war is depicted" là nguồn báo chí về những ngày cuối của căn cứ (Wikipedia: Củ Chi Base Camp; NYT bị chặn). CIA "Situation in Vietnam" số 29, 29/4/1975 có nhắc Củ Chi (archive.org CIA subset).

Hamlet Evaluation System: vì sao không có chuỗi số cho quận Củ Chi

Đây là một phủ định có cơ chế, không phải một thất bại tìm kiếm. HES ghi mọi ấp và xã có người ở trên toàn miền Nam, hằng tháng, bằng một bảng câu hỏi trắc nghiệm do cố vấn Mỹ điền tại chỗ, với mã lồng nhau CORPS / PROV (2 ký tự) / DIST (2) / VILG (2) / HAM (2); Hậu Nghĩa là mã tỉnh 25. Mã tỉnh duy nhất toàn miền Nam, nhưng mã quận chỉ duy nhất trong từng tỉnh và không được lập bảng trong tài liệu kỹ thuật, nên quy mã về tên "Củ Chi" phải qua tập gazetteer HES trong Record Group 472. Thang điểm: A–E cộng X, N, V; trong HCAT/VCAT, V = VC kiểm soát, X = bỏ hoang, P = dự kiến. Dữ liệu còn lại là hồ sơ điện tử NARA: series "Hamlet Evaluation System (HES) Files, 1967–1974", NAID 4616225, gồm HAMLA Files (1967), HES Basic Master File (7/1969–1/1973), HES70 Files (1970–1971), cùng một HES Gazetteer riêng (NARA 4616225; tài liệu kỹ thuật HES70; Cornell, bộ William G. Prince, series II "HES 70"). Dịch vụ Access to Archival Databases của NARA không mở series bình định — chỉ có tổn thất, hành quân và tù binh — nên phải yêu cầu qua Electronic Records Division ([email protected]) (NARA AAD). Kết luận: một chuỗi HES hằng tháng cho quận Củ Chi 1967–1973 là tái dựng được về mặt cơ học (lọc NAID 4616225 theo PROV = 25 và mã DIST lấy từ gazetteer RG 472), nhưng không ấn phẩm nào đã in nó; đó là việc phải làm tại College Park. Bản giấy tương đương cũng tồn tại: series "PROVINCE REPORTS: <TỈNH> [MACCORDS]" từ Phòng Cố vấn Trưởng tỉnh theo Chỉ thị liên hợp MACV/JUSPAO/USAID/OSA 4-67 (bản mẫu Quảng Nam: 221 trang cho 1968, TTU 218997); mục Hậu Nghĩa chưa xác nhận được vì cổng tìm kiếm TTU chặn bot.

Bảng HES duy nhất đã in là bảng toàn quốc: Thayer (OASD/SA) cho dân số theo hạng HES 1/1967 → 4/1967, nghìn người — A 385→316; B ~2.927→2.946; C 4.123→4.332; D 2.293→2.180; E 818→468; dân nông thôn phủ 13,1→13,3 triệu (Thayer Vol. 9, DTIC ADA039316). Chính Thayer cảnh báo về mọi số HES 1967: tháng 6/1967, dữ liệu HES "chỉ nên dùng với sự thận trọng tối đa"; tháng 7/1967, hệ thống "vẫn chịu nhiễu động dữ liệu"; tháng 10/1967, không có quan hệ rõ ràng giữa các hạng cũ và hạng HES, và có khả năng "thiên lệch lạc quan cài sẵn" trong thống kê GVN/Mỹ 1964–1966. Đối chiếu với bảng kiểm soát 17/10/1965 của Ellsberg (chính thức ~59% VC so với ước tính riêng ≥85% của ông), đây là bằng chứng rõ nhất trong tài liệu này về đúng cái thiên lệch Thayer về sau thừa nhận: mọi số về Củ Chi giai đoạn 1964–1966 nên được coi là sàn dưới của mức VC kiểm soát, không phải một phép đo. Thêm một cảnh báo riêng cho Củ Chi: vì quận chứa căn cứ Sư đoàn 25, điểm HES của nó là ít đại diện nhất trong tỉnh — điểm an ninh cạnh một doanh trại sư đoàn đo sự hiện diện Mỹ, không đo tầm với hành chính của chính quyền Sài Gòn.

HAMLET EVALUATION SYSTEM: MỘT PHỦ ĐỊNH CÓ CƠ CHẾ“Một chuỗi HES hằng tháng cho quận Củ Chi 1967–1973 là tái dựng được về mặt cơ học, nhưng không ấn phẩm nào đã in nó.”MÃ LỒNG NHAU CỦA HESCORPSquân đoàn/PROV2 ký tựHậu Nghĩa = 25/DIST2 ký tựCủ Chi = ?/VILG2 ký tự/HAM2 ký tựMã tỉnh là duy nhất toàn miền Nam.Mã quận chỉ duy nhất trong từng tỉnh,và không được lập bảng trong tài liệukỹ thuật — phải qua gazetteer RG 472.BẢNG HES DUY NHẤT ĐÃ IN LÀ BẢNG TOÀN QUỐC — THAYER, DÂN SỐ THEO HẠNG, NGHÌN NGƯỜI1/19674/1967Hạng A: 385 → 316 nghìn385316Hạng AHạng B: 2927 → 2946 nghìn2.9272.946Hạng BHạng C: 4123 → 4332 nghìn4.1234.332Hạng CHạng D: 2293 → 2180 nghìn2.2932.180Hạng DHạng E: 818 → 468 nghìn818468Hạng EDân nông thôn phủ 13,1 → 13,3 triệu.CẢNH BÁO CỦA CHÍNH THAYER VỀ MỌI SỐ HES 19676/1967dữ liệu HES “chỉ nên dùng với sựthận trọng tối đa”7/1967hệ thống “vẫn chịu nhiễu động dữliệu”10/1967không có quan hệ rõ ràng giữacác hạng cũ và hạng HES; có khảnăng “thiên lệch lạc quan càisẵn” trong thống kê 1964–1966Kết luận: mọi số về Củ Chi giai đoạn1964–1966 nên được coi là sàn dướicủa mức VC kiểm soát, không phải mộtphép đo.Thêm một cảnh báo riêng cho Củ Chi: vì quận chứa căn cứ Sư đoàn 25, điểm HES của nó là ít đại diện nhất trong tỉnh — điểm an ninh cạnhmột doanh trại sư đoàn đo sự hiện diện Mỹ, không đo tầm với hành chính của chính quyền Sài Gòn. Nguồn: mục 8.
Hình 27 Cấu trúc mã HES, bảng toàn quốc duy nhất đã in, và các cảnh báo của chính Thayer.Dựng theo mục 8.

Phụng Hoàng ở Củ Chi: một dữ kiện cứng, không có con số

Dữ kiện cứng duy nhất riêng cho Củ Chi trong toàn bộ hồ sơ Phoenix là thể chế, không phải thống kê: trong báo cáo tình trạng DIOCC của ICEX ngày 23/2/1968, DIOCC Củ Chi và Đức Huệ được báo là bị phá huỷ (đánh giá là có thể dựng lại bằng nguồn lực địa phương), Trảng Bàng và Đức Hoà không được nhắc — trong khi cùng lúc Quân đoàn III tuyên bố mọi DIOCC của mình trừ Phú Hoà (Bình Dương) đều hoạt động, mâu thuẫn nội tại với chính các mục "bị phá huỷ" (ICEX 00133905). Không tìm được con số VCI bị trung hoà nào cho quận Củ Chi, cũng không cho tỉnh Hậu Nghĩa, trong bất kỳ nguồn ngoại quốc nào. Sự vắng mặt của Củ Chi trong văn liệu Phoenix nhiều khả năng là cơ cấu chứ không ngẫu nhiên: Phoenix nhắm hạ tầng VCI bí mật trong các ấp có dân và có chính quyền, còn Củ Chi đến 1968 phần lớn là vùng căn cứ và vùng tự do bắn phá do hành quân Sư đoàn 25 chi phối — đúng như cụm từ "quận bị đánh nặng nhất" của CIA hàm ý. Số liệu Phụng Hoàng cho Củ Chi, nếu có, nằm trong hồ sơ Phung Hoang Division của CORDS Quân khu III (NAID 10459274) và hồ sơ DIOCC Hậu Nghĩa, đều chưa số hoá.

Một đối chiếu chưa ai khai thác: nhiệm kỳ của Herrington được xác định là 2/1971 – 8/1972, trùng gần khớp nhiệm kỳ của Bartlett (19/5/1971 – 14/11/1972). Hồi ký và bản debrief chính thức do đó mô tả cùng một tỉnh trong cùng mười tám tháng, từ hai cấp của cùng chuỗi cố vấn (WorldCat OCLC 7923168).

Bản debrief Cố vấn Trưởng tỉnh: một series, và một tập thiếu

Bản debrief của Bartlett thuộc một series có hệ thống: các bản debrief Cố vấn Trưởng tỉnh được gom thành tập nhiều tỉnh cho kỳ kết thúc tháng 2/1973, chuyển bằng thư của Thiếu tướng Verne L. Bowers, Tổng Thanh tra Quân đội, Bộ Lục quân, đề 9/5/1973. Ba tập định vị được, không tập nào nêu Hậu Nghĩa hay Củ Chi: AD0922369 (Bạc Liêu, Kiên Giang, Phong Dinh, Ba Xuyên — Quân khu 4); AD0921841/AD0921842 (Phú Yên, Pleiku, Quảng Đức, Darlac); ADB001520 (Vĩnh Long, COL Wallace F. Veaudry, 4/1/1972–15/2/1973). Tập Quân khu 3 — tập sẽ chứa báo cáo Hậu Nghĩa cuối cùng — chưa tìm ra (AD0921841; ADB001520). Cũng không tìm được bất kỳ báo cáo PSA Hậu Nghĩa nào cho 1966–1971, tức trước Bartlett. Hồ sơ Advisory Team 43 nằm ở CMH (theo Bergerud) và NARA RG 472 mục 472.4.9; cấu trúc ban cố vấn quận (Team 43 ở Bàu Trai với các toán Củ Chi, Trảng Bàng, Đức Hoà, Đức Huệ, cùng MAT 100 ở Trảng Bàng 1970–71) chỉ biết qua một diễn đàn cựu binh không nguồn (macvteams.org Team 43) — dùng để lấy tên mà tra, không dùng làm bằng chứng.

1972: bản đồ kiểm soát dân số của CIA

Tài liệu kiểm soát lãnh thổ duy nhất tiếp cận được cho 1972 là một sản phẩm bản đồ, không phải tự sự cấp quận: CIA, "Population Control Map of South Vietnam", 8/7/1972, dựa trên HES, vẽ các quận mà MACV ghi là dưới quyền cộng sản tính đến 22/6/1972 và mọi ấp hạng V (cộng sản kiểm soát về vật lý) hoặc E: dân số toàn quốc 18.823.000; số người trong ấp V/E tăng từ ~86.000 (dưới 0,5%) ngày 29/2/1972 lên ~755.000 (~4%) cuối tháng 4/1972; 27 quận được liệt là dưới quyền Quân đội Nhân dân Việt Nam tính đến 22/6. Khối Quân khu 3 của bảng tỉnh, nơi chứa dòng Hậu Nghĩa, không đọc được trong bản OCR; bản PDF gốc hẳn có (OCR; PDF gốc).

Điều chưa kiểm chứng trong mục này

Các chương Tết 1968, Tết 1969, "The Pacification of Hau Nghia Province 1969" và "Last Battles 1971–1973" của Bergerud 1991 chưa đọc. Không có số HES theo quận Củ Chi theo năm trong bất kỳ nguồn nào đọc được; các báo cáo CORDS hằng tháng 1967–1969 ở TTU chỉ có bảng toàn quốc/tỉnh và bị chặn. Phụng Hoàng ở quận Củ Chi: không có số liệu theo quận; chỉ có đánh giá tỉnh của Bartlett. Không tìm được bài báo nào về Phoenix ở Hậu Nghĩa hay về Easter Offensive 1972 nêu Củ Chi.

Mục 9

Nguồn khối XHCN và phóng viên thân Mặt trận

NGUỒN KHỐI XHCN VÀ THÂN MẶT TRẬN: AI THỰC SỰ Đà Ở ĐÓThanh ba ô = mức chứng thực trong các nguồn ngoại quốc đã khảo. Ô rỗng có viền đứt = chưa khảo được,phải ghi là “chưa thử” chứ không phải “không có”.trong vùng chỉ huy Mặt trậnở Việt Nam, không nối được với Củ Chiđính chính / kết quả âm có kiểmchưa khảo đượcNGƯỜI / CƠ QUANCHUYẾN ĐI THEO NGUỒNMỨCKẾT QUẢWilfred BurchettÚc1963–64 · 12/1964–1/1965 · 11/1965 · 8/1966Người duy nhất được nhiều nguồn chứng thực đã vàođịa đạo Củ Chi. Phù điêu ở Củ Chi khắc hình ônglàm việc trong hầm.Marta RojasCuba1965 — 54 ngày đêm tại căn cứ COSVN, Tây NinhPhát hiện quan trọng nhất của vòng thứ hai. Đúnglộ trình của Burchett: Campuchia → Tây Ninh →COSVN. Ở đó TRƯỚC Operation Crimp. Củ Chi khôngđược nêu tên trong bản thuật lại tiếp cận được.Madeleine RiffaudPháp11/1964–1/1965, đi cùng BurchettKhông nguồn nào đặt bà ở Củ Chi bằng tên. Nhân Dânghi “1963” — mâu thuẫn, gần như chắc là lẫn vớichuyến đầu của Burchett.Okamura AkihikoNhật1964–1965Ảnh ghi “vùng giải phóng” nhưng cho thấy quânVNCH/Mỹ hành quân bên trong làng NLF.Honda KatsuichiNhật1968, 1975 (sách)Tin đồn ông đi cùng Sư đoàn 25 ở Củ Chi chưa kiểmchứng.Ishikawa BunyōNhật1965–1968Hơn 15.000 âm bản; 23 bài Ryukyu Shimpo không nhắcCủ Chi.Sawada KyōichiNhật1967Ảnh 1967 Coronado II ở đồng bằng với Sư đoàn 9,không phải Củ Chi.Monika WarneńskaBa Langiai đoạn Việt NamKhông nguồn nào nối bà với Củ Chi; chủ đề ĐôngDương được ghi nhận của bà là đường Hồ Chí Minh.Oriana FallaciÝ1967–1968Không nguồn nào nối “Niente e così sia” (1969) vớiCủ Chi; tiếp cận của bà là từ phía Mỹ–VNCH ở SàiGòn.Roman KarmenLiên Xô1954ĐÍNH CHÍNH: phim “Вьетнам” quay năm 1954, chiếntranh chống Pháp — không liên quan gì đến Củ Chi.Heynowski & ScheumannĐông Đức1976–1977 (loạt Vietnam)ĐÍNH CHÍNH: “Die eiserne Festung” KHÔNG phải Tamgiác Sắt mà là tây nam Việt Nam sau 4/1975. Tiếpcận thời chiến của họ là ở miền Bắc.Pravda · Izvestia · TASSLiên Xô—Số thập niên 1960 không có trên web mở. Trọng tâmchuyển sang loạt thời sự “Новости дня” 1965–1975trên net-film.ru.Neues DeutschlandĐông Đức—Đã số hoá và lập chỉ mục toàn văn trên ZEFYS,nhưng phải đăng nhập mới tìm được. Chuỗi cần tralà “Cu Chi”.Peking Review · Nhân dân Nhật báoTrung Quốc—Kho miễn phí nhưng chỉ là ảnh trang, không chỉ mụctoàn văn. Chuỗi xác suất cao hơn là tên quân khu“Saigon–Gia Dinh”.L’UnitàÝđã traKho miễn phí có OCR; truy vấn “Cu Chi” không trảvề trang nào. Tra “triangolo di ferro” hứa hẹn hơnnhiều.Granma · RevoluciónCuba—Granma chỉ có từ 10/1965; không có kho toàn vănmở, nên chưa kiểm được bài nào của Rojas nêu CủChi.Phim duy nhất trong mọi kho khảo sát được có Củ Chi trong nhan đề: Du Kích Củ Chi / “Cu Chi Guerrillas”, Xưởng phim Giải phóng, 1967,20′51″, bản quyền British Film Institute, số hiệu N-507265 — phim Việt Nam, Anh lưu và phát hành.Nguồn: mục 9.
Hình 28 Mức chứng thực của từng nhân chứng và từng kho báo khối XHCN, sau vòng khảo sát thứ hai.Dựng theo mục 9.

Wilfred Burchett (Úc)

Chỉ Burchett được nhiều nguồn chứng thực đã vào địa đạo Củ Chi. Chuyên trang Nhân Dân (2021, bản Pháp và Tây Ban Nha) — lời kể người Việt qua nguồn ngoại quốc theo nghĩa ngược: nguồn Việt về một tác giả ngoại quốc — ghi chuyến đầu "10/1963–3/1964", gần sáu tháng, ở hai tháng tại căn cứ COSVN ở Tây Ninh và "từ đó thăm Củ Chi", sống trong địa đạo "chỉ 70 km từ Sài Gòn"; các chuyến sau 12/1964–1/1965 (cùng Riffaud, quay phim), 11/1965, 8/1966; một phù điêu ở Củ Chi khắc hình ông đang làm việc trong hầm (Nhân Dân ES; Nhân Dân FR). Phía phương Tây: Heenan (ADB) chấp nhận ông đi qua vùng NLF năm 1963 "tới ngoại ô Sài Gòn" và ba chuyến nữa giữa thập niên 1960, không nêu Củ Chi; năm 1966 Mỹ (qua Bộ Ngoại giao Anh) nhờ ông giúp thả phi công bị bắt, bằng chứng rằng các chính phủ phương Tây xem khả năng tiếp cận NLF của ông là thật (ADB); George Burchett đặt các chuyến 1963–1964, 1964–1965, 1966–1967 (CounterPunch). Dấu vết duy nhất của tự sự "trong hầm" của ông là giai thoại bị kẹt trong hầm và được chuyển sang cửa dành cho "anh nuôi to con", kể lại trong Rough Guides (Rough Guides); đoạn gốc hẳn nằm trong Vietnam: Inside Story of the Guerilla War (International Publishers 1965, 253 tr.; tái bản 1966; bản 3 "on the war for the cities") nhưng chưa đối chiếu được; bản sớm nhất My Visit to the Liberated Zones of South Vietnam (Hà Nội: FLPH 1964, 156 tr.) chưa đọc (Penrith; PAN). The Furtive War (1963, toàn văn trên marxists.org) viết trước chuyến đi, từ phỏng vấn tị nạn và điện tín phương Tây; chương "Operation Sunrise" là về Bến Cát, không phải Củ Chi; chương "War Against Trees" đặt phun thử nghiệm 8/1961 và phun làng gần Biên Hoà 1/1962, không nhắc Hậu Nghĩa (The Furtive War ch. 3). Vietnam Will Win (1968), chương "Winning Hearts and Minds", chuyển lời khai của Pfc David Tuck (A/1/35, Sư đoàn 25, 1/1966–2/1967) tại Toà án Russell ở Roskilde (20/11–2/12/1967) về cắt tai xác chết, "một mốt thoáng qua" trong Sư đoàn 25 được thưởng bia; chương không nêu Củ Chi hay Hậu Nghĩa dù căn cứ sư đoàn ở Củ Chi (CounterPunch). Công thức "đất thép / terre d'acier" và con số ~200 km gắn với Burchett chỉ trong văn bản kỷ niệm 2021 của Nhân Dân, không phải trong văn bản ngoại quốc thập niên 1960 nào đã đọc. Các bản dịch khối XHCN (VIAF): Война в джунглях Южного Вьетнама (1965), Partisanen contra Generale: Südvietnam 1964, Pourquoi le Vietcong gagne, ベトナム解放の戦い (VIAF). Phim: Australian Documentary Film Journalist Wilfred Burchett Visits Liberated Areas in South Vietnam (Xưởng phim Giải phóng, 1964, 51 phút, lời Anh; BFI N-507127; mục địa danh Long An, "Sai-Gon Gia-Dinh", Thừa Thiên-Huế) — sản phẩm Việt Nam, Anh lưu, Củ Chi không nêu trong mô tả; "Sài Gòn–Gia Định" là tên cách mạng bao gồm Củ Chi nên đây là đoạn phim hứa hẹn nhất (Socialism on Film; Princeton); phim riêng của Burchett 1964–1965 "được giữ ở Pháp và khó lấy" theo George Burchett 2015 (VietnamNet). Đánh giá học thuật: Doyle (Green Left) ghi "cám dỗ tuyên truyền" cho phía Việt Nam; Pirages điểm sách trên APSR 12/1965 (trả phí) (Green Left; Cambridge Core). Đồng thuận: khả năng tiếp cận là thật, tranh cãi là ở diễn giải.

Madeleine Riffaud (Pháp)

Thư viện Bộ Quốc phòng Pháp: Dans les maquis "Vietcong" (Julliard 1965, 267 tr., 4 bản khắc; Presses Pocket 1965, 254 tr.) là tường thuật của hai phóng viên Burchett và Riffaud "từ 11/1964 đến 1/1965" (Défense record); Nhân Dân ghi "1963" — mâu thuẫn, gần như chắc là lẫn với chuyến đầu của Burchett; không nguồn nào đặt bà ở Củ Chi bằng tên; phóng sự truyền hình 1965 "Madeleine Riffaud ở chiến khu Việt Cộng" được phát ở Pháp (Lepetitjournal Hanoi); sách thứ hai Au Nord Viêt-Nam. Écrit sous les bombes (Julliard 1967) (culture.gouv.fr).

Nhật Bản

Okamura Akihiko: chín trang ảnh trên Life 12/6/1964; phỏng vấn Huỳnh Tấn Phát 1965 khiến Sài Gòn cấm năm năm (NACT); ảnh 1964 ở Tokyo Photographic Art Museum ghi "vùng giải phóng" nhưng cho thấy quân VNCH/Mỹ hành quân bên trong làng NLF, tức ông chụp vùng này khi đi cùng quân chính phủ; địa danh duy nhất "gần biên giới Campuchia" (TOP Museum 15359). Honda Katsuichi (Asahi): 戦場の村 (1968) và 再訪・戦場の村 (1975); tin đồn ông đi cùng Sư đoàn 25 ở Củ Chi chưa kiểm chứng (NDL). Ishikawa Bunyō (1938–2026): 1965–1968 ở Việt Nam, >15.000 âm bản, 23 bài Ryukyu Shimpo không nhắc Củ Chi (Ryukyu Shimpo 2023). Sawada Kyōichi (UPI): ảnh 1967 Coronado II (đồng bằng, Sư đoàn 9), không phải Củ Chi (Yokohama Museum).

Cuba: Marta Rojas trong vùng COSVN, 1965

Phát hiện mới quan trọng nhất của vòng khảo sát thứ hai. Marta Rojas (Cuba, 1928–2021), đặc phái viên báo Revolución, sang Việt Nam năm 1965, ở 54 ngày đêm, vào bí mật qua nhiều tỉnh Campuchia, và đến khu rừng ở Tây Ninh nơi Trung ương Cục miền Nam (COSVN) đặt trụ sở; chuyến đi do Fidel Castro chuẩn y; bà chứng kiến B-52 đánh hằng ngày vào các khu quân giải phóng trú. Cu Chi và địa đạo không được nêu tên trong bản thuật lại tiếp cận được (QDND English, "Cuban war correspondent's memories of her first trip to Vietnam" — nguồn quân đội Việt Nam thuật lại hồi ức của một tác giả Cuba). Ý nghĩa: đó đúng là lộ trình của Burchett — Campuchia → Tây Ninh → COSVN — và Củ Chi là chuyến đi nhánh từ căn cứ đó. Rojas do vậy là người ngoại quốc duy nhất ngoài Burchett được chứng thực đã ở trong vùng chỉ huy Mặt trận sát Sài Gòn trong những năm đào địa đạo, và bà ở đó trước Operation Crimp (1/1966). Các bài bà gửi về đăng trên Revolución và Granma (Granma chỉ có từ 10/1965) — không có kho toàn văn mở, nên chưa kiểm được bài nào nêu Củ Chi. Lý lịch được chứng thực qua cáo phó Cuba và Việt Nam (OnCuba; VNA). Raúl Valdés Vivó: có mục từ trên EcuRed nhưng toàn bộ ecured.cu chặn bot, nên sách phóng sự vùng Mặt trận của ông chưa xác minh được năm, nhà xuất bản, lộ trình hay nội dung. ICAIC và Santiago Álvarez chưa khảo; trong danh mục, Abril de Vietnam en el año del gato (1975) là phim duy nhất có niên đại cho phép có hình miền Nam.

Liên Xô: kết quả rỗng nhưng không kết luận được, và một đính chính

Không tìm được văn bản Liên Xô thời chiến nào nêu Củ Chi. Truy vấn tiếng Nga `"Ку Чи" Южный Вьетнам туннели партизаны` chỉ trả về trang du lịch và phổ thông hậu Liên Xô, vì các số Pravda/Izvestia thập niên 1960 không có trên web mở. Đính chính quan trọng: phim Вьетнам của Roman Karmen — tên thường được dẫn như phim tài liệu Liên Xô về Việt Nam — được quay năm 1954, trong chiến tranh chống Pháp (Việt Bắc, Điện Biên Phủ, Mường Phăng, Hà Nội), không liên quan gì đến chiến tranh du kích miền Nam hay Củ Chi (VNA; QDND). Điều này loại tên phim tài liệu Liên Xô được dẫn nhiều nhất khỏi câu hỏi Củ Chi, và chuyển trọng tâm sang loạt phim thời sự vô danh của Xưởng phim Tài liệu Trung ương (Новости дня) 1965–1975 — đúng thứ mà net-film.ru lập chỉ mục đến từng cảnh. net-film.ru trả về từng bản ghi phim cho máy (kiểm chứng trên bản ghi film-9339, trong đó cuộn 7 có cảnh "đoàn Karmen ở Việt Nam") nhưng giao diện tìm kiếm không truy cập được. Chính tả cho một vòng tra trả phí: `Ку-Чи`, `Ку Чи`, `Кучи`, `Кути`, `Железный треугольник`, `предместья Сайгона`, `Сайгон — Зядинь`.

Đông Đức: phủ định dứt khoát về phim, Neues Deutschland vẫn treo

Toàn bộ loạt phim Vietnam của Walter Heynowski & Gerhard Scheumann (Studio H&S) — ứng viên hiển nhiên cho hình ảnh Đông Đức về vùng ven Sài Gòn — đều là hậu chiến, 1976–1977: Vietnam 1 – Die Teufelsinsel (1976, 65 phút, nhà tù Côn Sơn, UMass DEFA 7236); Vietnam 2 – Der erste Reis danach (1977, Sài Gòn hè 1975, DEFA 21136); Vietnam 3 – Ich bereue aufrichtig (1977, trại học tập Quang Trung, DEFA 21116); Vietnam 4 – Die eiserne Festung (1977, 60 phút, Goldene Taube Leipzig 1977, filmportal 76711). Cảnh báo cụ thể: "Die eiserne Festung" ("Pháo đài sắt") KHÔNG phải Tam giác Sắt — tóm tắt của chính phim đặt nó ở tây nam Việt Nam, vài tuần sau tháng 4/1975. Ai suy từ nhan đề rằng H&S đã quay Tam giác Sắt là sai. Khả năng tiếp cận thời chiến của H&S là ở miền Bắc (Piloten im Pyjama, 1968, BFI N-504032 và N-507225). Nếu có hình Đông Đức về Củ Chi, nhiều khả năng là tư liệu từ 1975 trở đi, hoặc truyền hình Đông Đức dùng phim Xưởng phim Giải phóng do Hà Nội cấp. Neues Deutschland và Berliner Zeitung đã số hoá và lập chỉ mục toàn văn trên cổng ZEFYS DDR-Presse của Staatsbibliothek zu Berlin, nhưng phải đăng nhập mới tìm được, và lối vào thay thế ddr-presse.staatsbibliothek-berlin.de chặn bot; defa-stiftung.de cũng chặn. Chuỗi cần tra là "Cu Chi" (chính tả Đức giữ nguyên phiên âm Việt, không phải "Kutschi"). Thomas Billhardt chưa khảo.

Trung Quốc: kho miễn phí nhưng không có chỉ mục toàn văn

Peking Review có đủ bản trên massline.org từ 1958 đến 2016, nhưng dưới dạng ảnh trang cả số, không có hộp tìm kiếm và không có chỉ mục toàn văn, nên không thể truy vấn "Cu Chi" từ xa; các số thêm vào sau 1/1/2012 là PDF ảnh có thể tìm được từng số một trong trình đọc PDF (massline.org Peking Review). Đây là việc dễ nhất còn lại trong toàn bộ dự án, vì kho miễn phí: tải theo năm rồi grep tại máy. Bản tiếng Pháp, Đức, Nhật và Tây Ban Nha của Peking Review được lưu song song trên cùng trang, nên một lần grep kiểm được năm ấn bản. Chính tả cần tra: "Cu Chi" trong bản tiếng Anh; 古芝 (Gǔzhī) trong Nhân dân Nhật báo; nhưng chuỗi có xác suất cao hơn là tên quân khu "Saigon–Gia Dinh", vì bản tin Trung Quốc thường in lại thông cáo Quân Giải phóng theo quân khu chứ không theo quận. Nhân dân Nhật báo (sau cổng trả phí) và bản tin Xinhua tiếng Anh (microfilm) chưa tiếp cận.

Ba Lan

Monika Warneńska được xác nhận là một trong hai nữ phóng viên chiến trường kinh điển của giai đoạn Việt Nam (đặt cạnh Oriana Fallaci trong một luận văn Đại học Jagiellonian 2018, RUJ 231066, không truy cập được toàn văn), nhưng không nguồn nào nối bà với Củ Chi; chủ đề Đông Dương được ghi nhận của bà là đường Hồ Chí Minh, một chiến trường khác. Thư viện số Wielkopolska có các số báo Ba Lan thời chiến đã OCR và truy cập miễn phí, dùng được thay cho Trybuna Ludu chưa số hoá (wbc.poznan.pl). Thư mục Warneńska qua katalogi.bn.org.pl chưa tra.

Ý, cánh tả Tây Âu, và Toà án Russell

Hai kết quả. Thứ nhất, toàn bộ kho L'Unità miễn phí, theo từng trang, có OCR tại `archivio.unita.news` (dạng `/assets/main/YYYY/MM/DD/page_0NN.pdf`) — kho báo cánh tả thời chiến dùng được nhất tìm thấy trong dự án — nhưng truy vấn "Cu Chi" không trả về trang nào, và trang đọc trực tiếp (16/12/1967, tr. 9) có năm tin Việt Nam toàn bộ là điện tín vô danh dưới dateline SAIGON/WASHINGTON/NEW YORK, không có Cu Chi, không có "triangolo di ferro", không có địa đạo, và không có Toà án Russell dù phiên Roskilde vừa kết thúc hai tuần trước (L'Unità 16/12/1967 tr. 9). Lý do cơ cấu: một tờ báo đưa tin chiến tranh miền Nam qua hãng tin thì thừa hưởng địa lý của hãng tin — và điện tín Mỹ thời đó gọi vùng này là Tam giác Sắt hoặc "gần Sài Gòn", không theo quận. Tra `triangolo di ferro` hứa hẹn hơn tra `Cu Chi` nhiều. Oriana Fallaci: không nguồn nào nối Niente e così sia (1969) với Củ Chi; tiếp cận của bà là từ phía Mỹ–VNCH ở Sài Gòn. Tiziano Terzani (ở Việt Nam từ 1972) chưa khảo.

Thứ hai, Toà án Russell: phiên thứ hai họp tại Roskilde, Đan Mạch, 20/11–1/12/1967, và Phần II gồm, theo thứ tự, mục 8 David Kenneth Tuck (14 trang), mục 9 Peter Martinsen (23 trang), mục 10 Donald Duncan (31 trang). Văn bản lời khai không có trên mạng ở dạng đáng tin: bản "toàn văn" miễn phí duy nhất nằm trên một trang thuyết âm mưu, bị cắt, và thực tế chỉ có một bài Chomsky in lại cùng bài phát biểu của Russell 13/11/1966 — không được dẫn làm nguồn nội dung. Trong phần văn bản thực sự có, Cu Chi, Hậu Nghĩa, Sư đoàn 25, Tam giác Sắt, Bến Súc, Cedar Falls, Bình Dương đều không xuất hiện. Chuyên khảo học thuật của Bruna Bagnato về hai toà án (Bagnato, "Le tribunal Russell", trong Goscha & Vaïsse (chủ biên), La guerre du Vietnam et l'Europe 1963–1973, Bruylant 2003) cũng không nêu Củ Chi, Hậu Nghĩa, Sư đoàn 25, Tam giác Sắt hay địa đạo, và không nêu tên nhân chứng lính nào ở phiên thứ hai. Điểm then chốt: nội dung liên quan Củ Chi gần như chắc nằm trong 14 trang của Tuck — ông phục vụ ở Sư đoàn 25, bộ tư lệnh tại Củ Chi — và có thể trong 31 trang của Duncan. Hiện dự án chỉ tiếp cận lời khai Tuck qua bản thuật lại của Burchett, trong khi bản in gốc Against the Crime of Silence (John Duffett chủ biên, Bertrand Russell Peace Foundation, New York 1968, ix + 662 tr.) nằm trên giá ở ít nhất bốn thư viện có mục lục công khai: Australian War Memorial (341.69 I61a), Texas A&M (JX6731 W3 I46 1967), Southern Cross University, Colorado Mesa (AWM LIB17406; Texas A&M). Khoảng 70 trang scan liên thư viện là việc đáng làm nhất, rẻ nhất còn lại. Lưu ý sai lệch ngày: Burchett ghi 20/11–2/12/1967; mục lục bản in ghi 20/11–1/12/1967; Bagnato chỉ ghi "11/1967" và đặt ở Copenhagen (Roskilde cách Copenhagen 30 km, phụ đề sách ghi "Stockholm, Copenhagen") — nên dùng "Roskilde/Copenhagen, cuối 11 – đầu 12/1967".

Phim "Du Kích Củ Chi" (1967), BFI lưu

Phim duy nhất trong mọi kho khảo sát được có Củ Chi trong nhan đề: ***Du Kích Củ Chi* / "Cu Chi Guerrillas", Xưởng phim Giải phóng, 1967, 20 phút 51 giây, đen trắng, thuyết minh tiếng Việt; nội dung là đời sống và lao động của người dân vùng Củ Chi trong chiến tranh với Mỹ, có cảnh báo về hình ảnh người chết và bị thương. Ê-kíp: quay phim Trần Như, Trung Chánh; dựng Lý Minh Vân, Nguyễn Ngoan; nhạc Huỳnh Tấn; hoạ Hồ Văn Tây. Bản quyền thuộc British Film Institute, số hiệu BFI N-507265**, số hoá trong Adam Matthew Socialism on Film (N_507265) — phim Việt Nam, Anh lưu và phát hành, nên là lời kể người Việt qua định chế ngoại quốc. Ý nghĩa thêm: quay phim Trần Như cũng đứng tên trong phim 1964 theo Burchett đi vùng giải phóng (BFI N-507127), tức cùng một tổ quay làm cả hai phim trong vòng ba năm — củng cố suy luận rằng phim 1964 là đoạn hình khả dĩ nhất ghi Burchett ở hoặc gần Củ Chi, và cho thấy kho tư liệu Việt Nam của BFI là nơi hình ảnh động thời chiến về Củ Chi thực sự còn lại ở phương Tây. Cổng tìm kiếm của Socialism on Film không truy cập được bằng máy, nên có thể còn mục Củ Chi khác trong bộ sưu tập chưa liệt kê được.

Điều còn chưa khảo và các rào truy cập

Chưa khảo được, và phải ghi là chưa thử chứ không phải không có: chuyên khảo Liên Xô (Mkhitaryan, Shcherbakov, Kobelev, Glazunov) và văn liệu quân sự–kỹ thuật Liên Xô về chiến tranh địa đạo; Thomas Billhardt và Der Mann mit dem Objektiv; Berliner Zeitung; thư mục Warneńska, Trybuna Ludu, Polityka; ICAIC/Santiago Álvarez và Bohemia; Nhân dân Nhật báo và bản tin Xinhua; toàn bộ Tiệp Khắc, Hungary, Bulgaria, Romania, Nam Tư, Triều Tiên, Mông Cổ (Rudé právo, Népszabadság, Borba, Politika, Scînteia, Rodong Sinmun); Paese Sera, Il Manifesto, Terzani, văn bản Fallaci; Ấn Độ (Blitz, Link, PTI), Ai Cập và báo khối không liên kết.

Một ngạch tài liệu hoàn toàn chưa ai xét trong dự án này, và có triển vọng hơn báo khối Warsaw: hồ sơ Ủy ban Kiểm soát và Giám sát Quốc tế (ICCS) của Hungary và Ba Lan, 1973–1975 — đây là nhân sự khối XHCN duy nhất được chứng thực đóng tại vùng Sài Gòn, và báo cáo của họ nằm ở Nemzeti Levéltár (Hungary) và Archiwum Akt Nowych / lưu trữ Bộ Ngoại giao Ba Lan.

Rào truy cập đã xác định chính xác: chặn bot — ddr-presse.staatsbibliothek-berlin.de, defa-stiftung.de, toàn bộ ecured.cu. Mở nhưng có cổng — ZEFYS DDR-Presse (phải đăng nhập mới tìm), Socialism on Film (bản ghi công khai, phim cần thuê bao), Russell Journal (McMaster, trả phí). Mở nhưng không dùng được bằng máy — net-film.ru và archivio.unita.news (bản ghi lẻ chạy, cổng tìm kiếm lỗi), massline.org Peking Review (không chỉ mục toàn văn, phải tải về grep). Heenan From Traveller to Traitor (2006) và Kiernan (chủ biên) Burchett Reporting the Other Side of the World (1986) vẫn chưa tiếp cận.

Mục 10

Sử học thuật, hồi ký, phim tài liệu sau 1975

Mangold & Penycate, The Tunnels of Cu Chi (1985)

Tom Mangold và John Penycate, nhà báo BBC (Panorama), lần đầu thấy địa đạo năm 1978 với tư cách những nhà báo BBC đầu tiên được cấp thị thực Hà Nội và TP HCM; sách ra dịp 10 năm Sài Gòn thất thủ (Random House 1985, 294 tr. + 16 tr. ảnh, thư mục tr. 273–278, ISBN 0394525760; Berkley 1986; Pan 1986; Cassell 2005 A Remarkable Story of War; Presidio 2005 A Harrowing Account of America's Tunnel Rats…; ebook 2013) (UPenn catalog; SCMP). Mục lục 22 chương: War Underground; Cu Chi District; Operation Crimp; The Guerrillas of the Viet Cong; The Tunnels; Survival Underground; Born in a Tunnel; The Tunnel Rats; Not Worth a Rat's Ass; Stop the Americans; Animals; Cu Chi Base Camp; Pham Sang – The Story of an Entertainer; Operation Cedar Falls; Dr Vo Hoang Le – Tunnel Surgeon; Psychological Operations; Fighting Science; Rat Six and Batman; Vo Thi Mo – The Girl Guerrilla; Tunnel Rat Squad; Winners and Losers; Hindsight (Stella & Rose's Books). Một bản photocopy 9 trang đề 28/5/1984 (trước xuất bản) tựa Tunnels Of Cu Chi: The Untold Story of Vietnam nằm trong James T. Bushong Collection ở TTU — sĩ quan Sư đoàn 25 giữ bản nháp liên quan đến mình (TTU 719568).

Phương pháp và nguồn: phỏng vấn hai phía; lời kể người Việt qua nguồn ngoại quốc gồm các chương về Phạm Sang, bác sĩ Võ Hoàng Lê, Võ Thị Mơ, và nhân vật Nam Thuận "biết hết tám dặm địa đạo" của làng mình (con số 8 dặm cấp làng, khác với 200 dặm toàn quận) (Barnes & Noble excerpt); Đại uý Nguyễn Thanh Linh, được tả là chỉ huy du kích quận Củ Chi, gặp năm 1978 (Goodreads). Phía Mỹ: Lt. Col. James Bushong thừa nhận Mỹ chưa bao giờ tìm được cách phá hay từ chối địa đạo hiệu quả; Weyand về chọn địa điểm Củ Chi cách mực nước ngầm 12 m; Sư đoàn 25 bắn ~200.000 đạn pháo/tháng vào Củ Chi đến 1967 — tất cả qua một blog du lịch tự nhận dựa nặng vào sách, không có số trang (mailasail blog). Một người điểm sách trên LibraryThing ghi chuột địa đạo Mỹ thường ngại nói nên góc nhìn Việt Nam được nhiều hơn (LibraryThing).

Các tuyên bố chủ chốt và nguồn gốc: chiều dài "200 dặm" (blurb Cassell 2005; Goodreads); người đọc ghi lại 200 dặm, "hơn 250 km", "hàng trăm km", 320 km (SCMP) — xem mục 11; câu "khu vực bị ném bom, pháo, hơi độc, khai quang và tàn phá nhiều nhất trong lịch sử chiến tranh" được gán cho hai tác giả (India Currents); căn cứ Sư đoàn 25 trên địa đạo; lời Linh về người dưới hầm "gào xin một tia sáng" (lời kể người Việt qua nguồn ngoại quốc). Điểm quan trọng: con số "16.000 chiến đấu, 6.000 sống sót" xuất hiện ở Globe and Mail (~1998), Rye's Own, Amusing Planet mà không có nguồn; không bản điểm sách hay trích đoạn nào của sách chứa con số này (Globe and Mail; Amusing Planet). Tiếp nhận: Publishers Weekly 1/6/1986 "cái nhìn nổi bật về một khía cạnh bị bỏ quên nhưng quan trọng"; SCMP gọi là "sách giáo khoa" về chiến tranh địa đạo nhưng chê bìa sau; người đọc chê cấu trúc lộn xộn và lặp (Publishers Weekly). Không xác nhận được phim BBC nào gắn với sách; toàn văn không đọc được (archive.org cho mượn có kiểm soát; identifier tunnelsofcuchi00mang có OCR cho "search inside") (archive.org).

ĐƯỜNG ĐI CỦA CÁC CON SỐ SAU 1975“Lời kể người Việt qua nguồn ngoại quốc chiếm tỉ trọng lớn trong văn liệu sau 1975 và cần được gắn cờ.”NGUỒN GỐCPhỏng vấn 1978–1984hai phía, do Mangold & Penycate thựchiệnHướng dẫn viên khu di tíchthường là cựu thông dịch ARVNCựu cán bộ Việt NamNguyễn Thanh Linh, Phạm Sang, Võ HoàngLê, Võ Thị MơVẬT MANGMangold & Penycate 1985Random House · 294 tr. · 22 chươngFaas và Arnett (AP) 10/1977~150 dặm, ~30 năm đàoWGBH 1981 · Grant 1991phỏng vấn phimLAN TRUYỀN“200 dặm” / “hơn 250 km” /“320 km”blurb Cassell 2005; Goodreads; SCMP“bị ném bom nhiều nhất lịchsử”VVAW 1987 → sách giáo khoa du lịch“16.000 chiến đấu, 6.000 sốngsót”Globe and Mail, Rye’s Own, AmusingPlanet — không nguồnĐiểm quan trọng trong mục 10: không bản điểm sách hay trích đoạn nào của Mangold & Penycate chứa con số “16.000/6.000”.
Hình 29 Đường đi của các con số sau 1975, từ người kể đến vật mang đến chỗ lan truyền.Dựng theo mục 1, 10 và 11.

Bergerud

The Dynamics of Defeat: The Vietnam War in Hau Nghia Province (Westview 1991, xiii + 383 tr., ISBN 0813378079; Routledge tái bản): chương theo thứ tự từ "The Challenge of Insurgency 1954–1965", "The Front Victorious: Hau Nghia Province Through 1965", "Search and Destroy 1966–1967", "Sword and Shield: Pacification 1966–1967", "Battle: Tet 1968", "The Accelerated Pacification Campaign", "Battle: Tet 1969", "The Pacification of Hau Nghia Province 1969", "High Tide 1970", "Last Battles 1971–1973", "Reflections" (Routledge). Luận điểm: chính sách Mỹ khó có thể khác và chỉ có thể thất bại; nhiều phương án "nếu như" thực ra đã được thử ở Hậu Nghĩa; Publishers Weekly (1/1991): Sư đoàn 25 ủng hộ bình định đều đặn nhưng chiến dịch gây nhiều tàn phá và thiệt mạng dân thường; nông dân xem Sài Gòn xa cách, tham nhũng, VC trung thực, hiệu quả; vấn đề "gần như không giải quyết được" (Publishers Weekly). Nguồn: "A Note on Primary Sources" nói toàn bộ hồ sơ Advisory Team Hậu Nghĩa và tài liệu CORDS ông dùng nằm ở Current History Branch, CMH (Taylor & Francis); hồ sơ nghiên cứu của ông (thư lính, 35 bản đồ nhỏ, trích ORLL, nhật ký 21/3/1967, hồi ức cựu binh Andrews–Williamson, băng Adams–Wood có bản gỡ) là hộp 9–16 của bộ sưu tập 150 Quỹ Marshall (Marshall finding aid). Red Thunder, Tropic Lightning: The World of a Combat Division in Vietnam (Westview 1993, 328 tr.): lịch sử xã hội theo chủ đề (địa hình, vũ khí, chiến trường 360 độ, vết thương, người Việt, tinh thần) từ hơn một nửa là lời kể cựu binh Sư đoàn 25; Prados chê chỉ Tết 1968 được kể chi tiết và bỏ qua hiệu ứng tour 365 ngày (Prados, Conflict Quarterly); Kirkus ghi sư đoàn mất 5.000 người 1966–1971; tranh cãi: Burkett Stolen Valor tr. 389–390 (theo người đọc Goodreads) cho rằng hồ sơ nhân chứng C. W. Bowman không khớp (Goodreads) — chưa kiểm chứng.

Rogers, Rottman, Herrington, Sheehan và sử chính thức

Rogers 1974 (xem mục 5): Tam giác Sắt là trụ sở Quân khu IV VC; "địa đạo do cán bộ tĩnh, hậu cần và sở chỉ huy đào, không phải đơn vị chiến đấu"; "kiên nhẫn là vũ khí chính"; sau Cedar Falls VC trở lại trong vài ngày và vùng này dàn dựng Tết 1968, nên phần lớn sử gia xem là thất bại trong khi Westmoreland, Seaman, DePuy gọi là thành công (Rogers ch. VI; Wikipedia: Cedar Falls). Rottman, Viet Cong and NVA Tunnels and Fortifications of the Vietnam War (Osprey Fortress 48, 2006) và Tunnel Rat in Vietnam (Osprey Warrior 161, 2012): nhiều phức hợp nhỏ hơn và kém phát triển hơn "địa đạo Củ Chi nổi tiếng"; không có MOS cho công việc; Guttman nhận xét truyền thuyết căn cứ VC dưới căn cứ Mỹ ở Củ Chi "không xa sự thật lắm" (Osprey; HistoryNet, Guttman). Sheehan, A Bright Shining Lie (1988): Book VI–VII về Vann từ 1965; ~400 phỏng vấn; trang đã đọc không mô tả chương Hậu Nghĩa (Wikipedia; Kirkus). Ahern, CIA and Rural Pacification in South Vietnam (CSI 2001; giải mật 2007/2009; bản thương mại Vietnam Declassified, UP Kentucky 2010): chú thích 14 chương 2 dẫn Bergerud tr. 14; bản điểm của Willbanks không nhắc Hậu Nghĩa (NSA EBB 284). CMH: Carland Stemming the Tide (2000, Crimp tr. 169–173), MacGarrigle Taking the Offensive (1998, Manhattan tr. 146), Villard Staying the Course (2017, mục "Binh Duong and Hau Nghia Provinces" tr. 84, ảnh cửa hầm Tam giác Sắt tr. 93; PDF GovInfo), Traas Engineers at War (2010), Le Gro (1985), Ploger (1974, "Engineer Tunnel Demolition Team" trong danh mục hình) — phần lớn bị chặn, chỉ Villard chương 1 và Rogers ch. I, II, VI đọc được (GovInfo Villard).

Nghiên cứu học thuật về Củ Chi sau chiến tranh

Khu di tích địa đạo Củ Chi ngày nayKhu di tích địa đạo Củ Chi ngày nay
Một cửa hầm đã được mở rộng cho du kháchMột cửa hầm đã được mở rộng cho du khách
Cửa hầm tại khu tham quanCửa hầm tại khu tham quan
Hình 30 Khu di tích hôm nay. Mục 11 lưu ý rằng con số 0,8–1,2 m trong slide kỹ thuật “là ngoại lệ, có lẽ tả hành lang chính hoặc đoạn mở rộng cho du khách”.Wikimedia Commons · Andre Hospers · CC BY-SA 4.0 · shankar s. from Dubai, united arab emirates · CC BY 2.0 · Thomas Schoch · CC BY-SA 3.0

Nghiên cứu bình duyệt gần như toàn bộ về khu di tích, không về kỹ thuật thời chiến: Kelly Le, "Cu Chi tunnels: Vietnamese transmigrant's perspective", Annals of Tourism Research 46 (2014) (tác giả gốc Việt, nêu để người dùng tự quyết) (ANU); Jamie Gillen, "It begins with the bombs: operationalizing violence at a Vietnamese dark tourism site", Cultural Geographies 25:4 (2018); Todd Madigan & Brad West, "Western Tourism at Cu Chi and the Memory of War in Vietnam", Thesis Eleven (2023): mạng ~250 km, di tích quốc gia 1979, đền Bến Dược (1995) hơn 44.000 tên, khu do lực lượng bán quân sự vận hành với trường bắn, hướng dẫn viên thường là cựu thông dịch ARVN, du khách phương Tây tiếp nhận hoài nghi nhưng đồng cảm hai phía (Madigan & West PDF); Wen-Qing Ngoei, "On/In the Ground with Vietnamese Communists: The Cu Chi Tunnels in the Classroom", AHR 130:1 (3/2025) (EBSCO); Naef (Genève) 2010 (UNIGE). Khai quang: Stellman et al., Nature 422 (2003) hiệu chỉnh HERBS (9.141 phi vụ, 2,63 triệu ha, 2,1–4,8 triệu người bị phun trực tiếp) nhưng không nêu tỉnh/quận nào ở III Corps; Hatfield không nhắc Củ Chi; vì vậy phần "khai quang nhiều nhất" của câu khẩu hiệu không có cơ sở bình duyệt (Stellman 2003; Hatfield). Bộ slide Missouri S&T (Almodovar & Rogers, GE 342, từ Mangold & Penycate) là tài liệu lớp học, không bình duyệt, nhưng là tổng hợp kỹ thuật địa chất duy nhất: laterit, đào ~1 m³/người/ngày, zigzag 60–120°, cửa cách nhau 40–50 m, bẫy nước mỗi 100 m, charge 40 lb không phá được sét mùa khô (Almodovar & Rogers).

Hồi ký cựu binh (catalog, chưa đọc)

Úc: MacGregor & Thomson, No Need for Heroes (CALM 1993; 2006); Thomson & MacGregor, Tunnel Rats (Allen & Unwin 2011) và A Sapper's War (2012); McAulay, Blue Lanyard, Red Banner (Banner Books 2005); Breen, First to Fight (Allen & Unwin 1988); MacGregor, Classified Memoirs (2019). Mỹ, Sư đoàn 25 (theo thư mục Moïse và hội Manchu): Adas & Gilch, Everyman in Vietnam (Oxford UP 2017; thư Pvt James Gilch, 1/5 Mech, chết 7/1966); Hayes, On Point (Presidio 2000; C/1/5 1967–68); Birdwell & Nolan, A Hundred Miles of Bad Road (Presidio 1997; 3/4 Cav, Tết 1968); Hemphill, Platoon: Bravo Company (1999; B/3/22 giai đoạn Ấp Chợ); Hayden, A Soldier's Story: Tracks, Tunnels and the Tet Offensive (1999); Merritt, Where the Rivers Ran Backward (UGA Press 1989; Moïse ngờ hư cấu một phần); Hogue, We Were the Third Herd (2003; tây bắc Củ Chi 1969–70); Russell, Suicide Charlie (Praeger 1993); James, Unfortunate Sons (2005; Hóc Môn 2/3/1968); Bradford, Some Even Volunteered (Praeger 1994); Kitchin, War in Aquarius (McFarland 1994); Ross, Outside the Wire (Stackpole 2013; 2/22 Mech 1970, có làm chuột địa đạo); Heinemann, Black Virgin Mountain (2005; về lại chui hầm Củ Chi 1992); Quintrell, My 365 Days with the Wolfhounds (audiobook 2022); Lupton, Last Man Standing (2022); Bridwell, Manchu Delta (1986); Adams, Mokane to Mole City (2019); Jansen, Vietnam Stories I Never Told (McFarland 2025); Burns, Centaurs in Vietnam (2008); Sever, Xin Loi, Viet Nam (Ballantine 2005) (Moïse, ground war; manchu.org). Y tế 12th Evac: Blum, Warrior Nurse (2025); O'Neill, Don't Mean Nothing (truyện ngắn); Walker, A Piece of My Heart; phỏng vấn Hausser (UNT OH-0874, 1992) (UNT). Tiểu luận/trực tuyến đã đọc toàn văn: Huckaby "Cu Chi 66"; Roush (sapper.pdf); Goodman (Madera Tribune); Randle (HistoryNet 2003). Lịch sử sử (Moïse) ghi nhận: khối hồi ký nghiêng về bộ binh/kỵ binh; công binh và quân y sống lâu nhất ở căn cứ lại ít nhất; không tìm được hồi ký 65th Engineer.

Phim tài liệu

Mickey Grant, The Cu Chi Tunnels (quay từ 1986, chiếu ra mắt Sài Gòn 1990, IMDb 1991): dùng phim thời chiến do quay phim VC quay, phỏng vấn bác sĩ, nghệ sĩ, kỹ sư, du kích sống sót — lời kể người Việt qua nguồn ngoại quốc; không cho số chiều dài hay thương vong; được Ngoei (AHR 2025) điểm cho dùng trong lớp học (Kalamu; MIT News 2005). Janet Gardner, A World Beneath the War (1996): phỏng vấn tù binh USAF Robert Biss và người bắt ông; phần lớn nội dung về Vịnh Mốc, Củ Chi nhắc một lần (AAPB). Vietnam: A Television History (WGBH/PBS 1983): không tập nào nêu Củ Chi trong tóm tắt, nhưng phỏng vấn thô 1981 có Đặng Xuân Tèo và Trần Thị Mỹ về Cedar Falls — lời kể người Việt qua nguồn ngoại quốc (Open Vault). Vietnam: The Ten Thousand Day War (CBC 1980–81, Maclear/Arnett): không mô tả tập nào về địa đạo (Wikipedia). Burns & Novick (PBS 2017): không tham chiếu Củ Chi, Cedar Falls, Bến Súc trong tóm tắt tập. Phim Lục quân Mỹ: Staff Film Reports 66-5A, 66-10A, 66-17A, 66-18A, 66-25A (1966); The Big Picture: Ready to Strike (1968) có "Tunnels of Cu Chi" ở phút 9:55 (Periscope Film); phim tư liệu NARA Cedar Falls tại WGBH. BBC quay ở vùng Sư đoàn 25 tháng 2/1969 (producer Dick Taylor, Peter Arnett bình luận) (TLN 4-09). Uwe Boll, 1968 Tunnel Rats (2008) là phim truyện. Không xác minh được chương trình History Channel/Discovery/National Geographic nào.

Mục 11

Số liệu và tranh luận

Mọi mâu thuẫn được giữ nguyên. "Nguồn Việt qua nguồn ngoại quốc" đánh dấu [VN→].

Chiều dài địa đạo theo nguồn và năm

NămCon sốNguồnLoại
4/7/1963"ít nhất 15 dặm" hầm liên lạc và khotin điện phương Tây (RealTime1960s)báo chí
1/1966"hơn 17 km" lục soát; hầm dài nhất 460 mMcNeill 1993 qua Wikipedia: Crimpsử chính thức Úc
1/1966"hơn 10 dặm"; ~500 yardHead 2023tạp chí
1/1966"ba phần tư dặm mỗi hướng" (hành lang chính)MacGregor, AWM F10652nhân chứng
1/1966"gần 2 km" trong bốn ngàyDVA Anzac Portalchính phủ Úc
3/1966"khoảng tám dặm" phức hợp bị pháDeepe, Herald Tribune, UNL 11381báo chí
5/1966"hơn 600 mạng địa đạo" dưới Lữ đoàn 2TLN 1-10báo quân đội
7/1966"hơn 400 địa đạo" trong <2 dặm vuôngTLN 1-20báo quân đội
9/1966cụm 71 hầm, hai hầm >800 ft, trung bình 46 ftTLN 1-30báo quân đội
1/19679.445 m phá (Cedar Falls)Rogers ch. VIsử chính thức Mỹ
4–6/19671.594 m phá (Manhattan)DTIC AD0504136ORLL
10/1967"hơn 8 km" ở Hố Bò; hành lang 10.000 ft; cụm >2.000 mTLN 2-41; TLN 2-51báo quân đội
1/1968"khoảng năm dặm" lục soát, ba ngày đêm để đi hết [VN→ PRU]TLN 3-03báo quân đội
10/1977~150 dặm, ~30 năm đào, ba tầng [VN→ hướng dẫn viên, Linh, Sang]Faas/AP, Michigan Dailybáo chí sau chiến tranh
1985200 dặm tới biên giới Campuchia; "48 km thời Pháp → ~200 km 1965" [VN→]Mangold & Penycate (STRASAM; VVMF EP53)sách báo chí
1987350 km [VN→ hướng dẫn viên]VVAW The Veteran (VVAW)cựu binh
2003130 dặm, có cụm ~40 dặmUSACE 062công binh Mỹ
2004/2020220–250 kmPlanet Wissentruyền hình Đức
2005~320 kmSCMPđiểm sách
—>200 km, 56 km²AWM REL35994.002bảo tàng Úc
—"khoảng 400 km"DVA Anzac Portalchính phủ Úc
—75 dặm / 121 km [VN→ trang khu di tích]Wikipedia: Củ Chi tunnelsbách khoa
—250 km; 120 km còn giữ [VN→ chính thức]tisland.travel; Madigan & West 2023du lịch/học thuật
CHIỀU DÀI ĐỊA ĐẠO THEO NGUỒN VÀ NĂMXếp theo thứ tự thời gian; thang ngang theo luỹ thừa 10. Hai dãy không cùng đơn vị đo:đoạn hầm đã lục soát hoặc phá, so với ước tổng mạng lưới.1 km2510 km2050100 km2005004/7/1963“ít nhất 15 dặm” hầm liên lạc và khotin điện phương Tây4/7/1963 — “ít nhất 15 dặm” hầm liên lạc và kho (tin điện phương Tây)≈ 24 km1/1966“hơn 17 km” lục soát; hầm dài nhất 460 mMcNeill 1993 — sử chính thức Úc1/1966 — “hơn 17 km” lục soát; hầm dài nhất 460 m (McNeill 1993 — sử chính thức Úc)17 km1/1966“hơn 10 dặm”; ~500 yardHead 2023 — tạp chí1/1966 — “hơn 10 dặm”; ~500 yard (Head 2023 — tạp chí)≈ 16 km1/1966“ba phần tư dặm mỗi hướng” (hành lang chính)MacGregor, AWM F10652 — nhân chứng1/1966 — “ba phần tư dặm mỗi hướng” (hành lang chính) (MacGregor, AWM F10652 — nhân chứng)≈ 1 km1/1966“gần 2 km” trong bốn ngàyDVA Anzac Portal — chính phủ Úc1/1966 — “gần 2 km” trong bốn ngày (DVA Anzac Portal — chính phủ Úc)2 km3/1966“khoảng tám dặm” phức hợp bị pháDeepe, Herald Tribune — báo chí3/1966 — “khoảng tám dặm” phức hợp bị phá (Deepe, Herald Tribune — báo chí)≈ 13 km1/19679.445 m phá (Cedar Falls)Rogers ch. VI — sử chính thức Mỹ1/1967 — 9.445 m phá (Cedar Falls) (Rogers ch. VI — sử chính thức Mỹ)9,445 km4–6/19671.594 m phá (Manhattan)ORLL, DTIC AD05041364–6/1967 — 1.594 m phá (Manhattan) (ORLL, DTIC AD0504136)1,594 km10/1967“hơn 8 km” ở Hố Bò; hành lang 10.000 ftTropic Lightning News10/1967 — “hơn 8 km” ở Hố Bò; hành lang 10.000 ft (Tropic Lightning News)8 km1/1968“khoảng năm dặm” lục soát [VN→ PRU]Tropic Lightning News1/1968 — “khoảng năm dặm” lục soát [VN→ PRU] (Tropic Lightning News)≈ 8 km10/1977~150 dặm, ~30 năm đào, ba tầng [VN→]Faas/AP — hướng dẫn viên, Linh, Sang10/1977 — ~150 dặm, ~30 năm đào, ba tầng [VN→] (Faas/AP — hướng dẫn viên, Linh, Sang)≈ 241 km1985200 dặm tới biên giới Campuchia [VN→]Mangold & Penycate — sách báo chí1985 — 200 dặm tới biên giới Campuchia [VN→] (Mangold & Penycate — sách báo chí)≈ 322 km1987350 km [VN→ hướng dẫn viên]VVAW The Veteran — cựu binh1987 — 350 km [VN→ hướng dẫn viên] (VVAW The Veteran — cựu binh)350 km2003130 dặm, có cụm ~40 dặmUSACE Vignette 062 — công binh Mỹ2003 — 130 dặm, có cụm ~40 dặm (USACE Vignette 062 — công binh Mỹ)≈ 209 km2004/2020220–250 kmPlanet Wissen — truyền hình Đức2004/2020 — 220–250 km (Planet Wissen — truyền hình Đức)235 km2005~320 kmSCMP — điểm sách2005 — ~320 km (SCMP — điểm sách)320 kmKHÔNG GHI NĂM>200 km, 56 km²AWM — bảo tàng Úc>200 km, 56 km² — AWM — bảo tàng Úc200 km“khoảng 400 km”DVA — chính phủ Úc“khoảng 400 km” — DVA — chính phủ Úc400 km75 dặm / 121 km [VN→]Wikipedia, dẫn trang khu di tích75 dặm / 121 km [VN→] — Wikipedia, dẫn trang khu di tích121 km250 km; 120 km còn giữ [VN→]tisland.travel; Madigan & West 2023250 km; 120 km còn giữ [VN→] — tisland.travel; Madigan & West 2023250 kmđoạn hầm đã lục soát hoặc phá — công binh Đồng minh đo, hoặc báo chí thời chiếnước tổng mạng lưới sau 1975 [VN→]Vùng tô cam: từ 1977, khi người kể chuyển từ công binh Đồng minh sang hướng dẫn viên và cựu cán bộ Việt Nam.Dấu ≈ là con số dặm trong nguồn, quy ra ki-lô-mét chỉ để vẽ chung một thang. Nguồn: bảng “Chiều dài địa đạo theo nguồn và năm”, mục 11.
Hình 31 Chiều dài địa đạo theo nguồn và năm, thang luỹ thừa 10. Bước nhảy lên 150 dặm năm 1977 trùng với việc người kể chuyển từ công binh Đồng minh sang hướng dẫn viên Việt Nam.Dựng theo bảng ở đầu mục này.

Nhận xét: trần số liệu báo chí thời chiến là hàng đơn vị dặm; bước nhảy lên 150 dặm (1977) trùng với việc người kể chuyển từ công binh Đồng minh sang hướng dẫn viên Việt Nam. Hai dãy không cùng đơn vị đo (đoạn hầm đã lục soát/phá vs. ước tổng mạng lưới).

Operation Crimp (8–14/1/1966)

Chỉ sốGiá trịNguồn
VC chết xác nhận128 (+190 có thể)Wikipedia dẫn McNeill; Head
VC chết"ít nhất 128, có thể thêm 192"McAulay
VC chết (3rd Bde 1st ID riêng)22Wikipedia
VC chết hoặc bị bắt"khoảng 130"vietnamwar50th
Bị bắt / nghi can92 / 509Wikipedia, Head
Tù binh95McAulay
"hơn 1.500 bị bắt"Deepe 3/1966, UNL 11381
Úc chết / bị thương8 / 29 (Wikipedia); 8 / 30 (Head); 8 / 31 (Frontline)
Mỹ chết / bị thương14 / 76 (Wikipedia, Head)
173rd Abn Bde (gồm 1 RAR) chết / bị thương23 / 102 (McAulay; vietnamwar50th)
Tài liệu~7.500 tài liệu và bản đồ (COAAR 173rd; Carland qua DoD)
Tài liệu"hơn 100.000 trang" (McNeill qua Wikipedia; Head); "hơn 100.000 mảnh giấy" (MacGregor)
Tài liệu"tám xe tải" (McAulay); "tám xe 2½ tấn" tiếp liệu (Wikipedia)
Vũ khí90 (Wikipedia); 122 (McAulay); 59 + 57 mm RCL đến 10/1
Sức địch ước~1.000 (Carland/McNeill qua Wikipedia); "~5.000" (Head)
Ngày8–14/1 (Úc, COAAR); 7–13/1 (DoD)
Bowtell chết11/1 (AWM, Army, hội); 12/1 (Wikipedia)
Phía VC tuyên bố [VN→]gần 2.000 Mỹ chết/bị thương, 100 xe, 50 máy bay (Wikipedia)

Operation Cedar Falls (8–26/1/1967)

Chỉ số25th ID AAR (khu vực tây sông)Rogers 1974 qua WikipediaABMCCHECOPaschall 2012ec47.com
Địch chết331 (BC) + 155 có thể~750 (infobox 720)700720–750723"hơn 700"
Bị bắt / giữ39 PW + 147 giữ + 147 Hồi Chánh280 bắt + 540 Chiêu Hồi + 512 giữ700 bắt280–488 PW213 bắt, 500+ hồi chánh—
Địa đạo phá52125 (gần như chắc lỗi chép)400—424—
Công sự340 công trình, 129 hố100 công sự, 500+ công trình1.100 công sự, 500 công trình—1.100 công sự, 509 công trình—
Tài liệu60 lb chuyển + 285 lb huỷ—491.553 trang—~500.000 trang492.553 trang + 1.500 trang SIGINT
Gạo253,85 t thu + 100,4 t huỷ"nuôi 13.000 quân một năm"3.700 t—3.700 t>3.700 t
Mỹ chết / bị thương40 / 15672 / 337—72 / 33772 (Mỹ+ARVN)73 / 337
Diện tích dọn—~11 km²——>4 dặm vuông9 km²
Dân di dời83 đến Trung Lập~6.000 (Bến Súc ~3.500 Schell / 3.800 NYT)————

Nguồn: VHPA AAR; Wikipedia: Cedar Falls; ABMC; CHECO; Paschall; ec47.com; Rogers ch. VI cho 9.445 m địa đạo phá. Lưu ý: 521 địa đạo của riêng khu vực Sư đoàn 25 lớn hơn "424" toàn chiến dịch của Paschall, cho thấy đơn vị đếm "tunnel" không nhất quán giữa các cấp.

Trận 26/2/1969 ở căn cứ Củ Chi

NguồnMỹ chếtMỹ bị thươngĐịch chếtTù binhĐặc côngCH-47 phá / hỏng
25th ID INTSUM 0571328318—9 / 2
G3 log 2340 / DISCOM / danh sách tên14—318—9 / 2 vừa
25th Medical Bn log (đến trưa)—74 (+1 dân, 2 VC)————
12th Evac log—~55 từ Củ Chi————
554th Engineer memo (khu Hotel)1029116nhóm ~11—
242nd ASHC history1 (Stringer)5———9 / 3 nặng + 2 nhẹ
INTSUM 058 (từ tù binh) [VN→]————Tiểu đoàn Đặc công 3, ~300—
The Times 27/2/1969 (Tomalin)————~809 phá, 12 loại khỏi vòng chiến
Facts on File135031—~809
Newsweek 10/3/1969—————9 / 4
Roush (242nd)14—31 (2 trong khu 242nd)5~408 phá, hầu hết khác hỏng (lời Roush) / 9 (Virtual Wall)
Goodman, Madera Tribune14 (10 của 554th)≥3011 (khu Hotel)8~399
Randle (116th AHC)————<50, ~40—
720th MP history14~40——~349 / 3 nặng
TLN 17/3/1969không nêukhông nêu318"tiểu đoàn đặc công"không nêu
MACV Command History 1969 (qua Wikipedia)—————9
TRẬN 26/2/1969: MƯỜI LĂM NGUỒN, MƯỜI LĂM BỘ SỐMục 11 ghi: ba tầng số đặc công — 34–40 người nhìn thấy, ~80 theo báo chí, tiểu đoàn 300 người theo thẩm vấn —“không loại trừ nhau”.NGUỒNMỸ CHẾTMỸ BỊ THƯƠNGSỐ ĐẶC CÔNGCH-4725th ID INTSUM 05725th ID INTSUM 057 — 131325th ID INTSUM 057 — 2828—9 phá / 2 hỏngNhật ký G3 lúc 2340Nhật ký G3 lúc 2340 — 1414——9 phá / 2 hỏng vừaNhật ký 25th Medical Bn (đến trưa)—Nhật ký 25th Medical Bn (đến trưa) — 7474—Nhật ký 12th Evac—Nhật ký 12th Evac — 5555—~55 từ Củ ChiMemo 554th Engineer (khu Hotel)Memo 554th Engineer (khu Hotel) — 1010Memo 554th Engineer (khu Hotel) — 2929Memo 554th Engineer (khu Hotel) — 1111242nd ASHC history242nd ASHC history — 11242nd ASHC history — 55—9 phá / 3 nặng + 2 nhẹINTSUM 058 (từ tù binh) [VN→]——INTSUM 058 (từ tù binh) [VN→] — 300300Tiểu đoàn Đặc công 3The Times 27/2/1969 (Tomalin)——The Times 27/2/1969 (Tomalin) — 80809 phá, 12 loại khỏi vòng chiếnFacts on FileFacts on File — 1313Facts on File — 5050Facts on File — 80809Newsweek 10/3/1969———9 phá / 4 hỏngRoush (242nd)Roush (242nd) — 1414—Roush (242nd) — 40408 phá (lời Roush)Goodman, Madera TribuneGoodman, Madera Tribune — 1414Goodman, Madera Tribune — 3030Goodman, Madera Tribune — 39399Randle (116th AHC)——Randle (116th AHC) — 4545720th MP history720th MP history — 1414720th MP history — 4040720th MP history — 34349 phá / 3 nặngTLN 17/3/1969———không nêuThang bề rộng là phi tuyến trong mỗi cột để các giá trị nhỏ vẫn đọc được; con số in bên cạnh là giá trị thật. Ba cột là ba thang riêng.Nguồn: bảng “Trận 26/2/1969 ở căn cứ Củ Chi”, mục 11.
Hình 32 Mười lăm nguồn về trận 26/2/1969, đặt cạnh nhau.Dựng theo bảng ở trên.

Nguồn: VHPA CuChi69.pdf; VHPA sapper.pdf; Virtual Wall; Madera Tribune; HistoryNet, Randle; 720th MP; TLN 4-11. Ba tầng số đặc công (34–40 người nhìn thấy; ~80 theo báo chí; tiểu đoàn 300 người theo thẩm vấn) không loại trừ nhau.

Kích thước hầm theo nguồn

NguồnRộng × caoĐộ sâu / tầng
The Cove (Lục quân Úc)~60 cm × 75 cmthông hơi qua 10–12 m đất (Cove)
MacGregor (AWM F10652)"rất nhỏ và hẹp", bò đến chỗ đủ rộng để quay1–3 tầng; còn tầng dưới chưa thăm
McNeill qua Wikipedia—1–3 tầng; hào >1,8 m
McAulay—"ba, bốn tầng hoặc hơn, tới mực nước ngầm"; 1/503rd tìm hầm sáu tầng
NMUSA"chủ yếu 2 ft × 3 ft"; một hầm 120 ft; một cụm 2.000 m— (NMUSA)
TLN 9/1966~4 ft × 3 ftchủ yếu hai tầng (TLN 1-30)
TLN 7/1966—tới năm tầng
Circle Pines AAR 4/1966—ba–bốn tầng
Kipapa AAR 9/1966"lót bê tông"bốn tầng tại XT 704206
Haldane (WP 2008)—ba tầng dưới cửa sập 1/28th
USACE 062—tiểu đội <6 ft, ~100 ft dài; tiểu đoàn ~50 ft, tới bốn tầng; giếng nguỵ trang ~50 ft
VVMF EP53/54 (cựu binh 1st Engineer)—tầng 1 ~5 ft, rồi 10–12 ft; bệnh viện ~ba tầng; một hành lang >¼ dặm
Rogers ch. VI—acetylene tới ~7 ft phủ; kết hợp tới 15–20 ft
Mangold & Penycate qua STRASAMlỗ vào 2 ft rộng, 3 ft sâu; có đoạn >1,8 m caobốn tầng
Almodovar & Rogers (từ Mangold & Penycate)0,8–1,2 m × 0,8–1,8 m; trần ≥1,5 mtới bốn tầng; laterit 10–20 m
Faas/AP 1977 [VN→]~2 ft × 2 fttới ba tầng
Planet Wissen—ba tầng, tới 10 m
Chính thức VN qua tisland [VN→]—3–12 m
Khu tham quan (Madigan & West; HCWT)~2 ft × 3 ft; 0,8–1,2 m rộng—

Nhận xét: số đo của người tham gia (60 × 75 cm Úc; 2 × 3 ft Mỹ) khớp nhau và khớp với việc chọn người dưới 165 cm; 0,8–1,2 m trong slide kỹ thuật là ngoại lệ, có lẽ tả hành lang chính hoặc đoạn mở rộng cho du khách. Số tầng tăng theo tầm với của người quan sát.

Câu "khu vực bị ném bom nhiều nhất lịch sử": lần xuất hiện sớm nhất

NămVăn bảnNguồn
1965–1975không tìm thấy trong bất kỳ nguồn nào đã đọc—
3/1966"sanctuary", "Viet Cong-infested" (sớm nhất)TLN 1-01; TLN 1-02
17/6/1966"the impregnable preserve of the Viet Cong", "gần hai thập niên"Time (Omeka)
25/12/1966"Zap City" (Bob Hope)TLN 1-45
1985"most bombed, shelled, gassed, defoliated and generally devastated area in the history of warfare" (gán cho Mangold & Penycate; trang chưa đối chiếu)India Currents
Thu 1987"the most bombed and defoliated area in the war"; 350 km; 10.000/16.000 chết [VN→ hướng dẫn viên]Damato, VVAW (VVAW) — lần xuất hiện sớm nhất có niên đại chắc chắn trong khối ghi chú
sau 2000lặp lại không ghi nguồnMissouri S&T; Have Camera Will Travel; Peregrina blog

Không nguồn nào cung cấp tấn bom/đạn từ hồ sơ Mỹ cho quận Củ Chi để kiểm câu này; các con số tấn (500.000 tấn bom, 480 tấn hoá chất) chỉ có từ nguồn chính thức Việt Nam qua trang du lịch Nga [VN→] (tisland.travel); Stellman 2003 không nêu quận. Con số "200.000 đạn pháo/tháng" của Sư đoàn 25 (Mangold & Penycate qua blog) đối chiếu được phần nào với ORLL Div Arty: 288.470 viên trong quý 2–4/1968 toàn sư đoàn, tức ~96.000/tháng cho mọi mục tiêu, không riêng Củ Chi (DTIC AD0392227).

Các mâu thuẫn khác

Dân số Bến Súc: 3.500 (Schell) / 3.800 (NYT). Ngày bộ tư lệnh Sư đoàn 25 rời Củ Chi: 2/1970 (Stanton/Wikipedia) / 8–15/12/1970 (ORLL, AAR, hội). Medal of Honor: 21 (hội) / 22 (Wikipedia, Star-Bulletin). Quân chính phủ Hậu Nghĩa 1965: ~20.000 theo bản cắt báo Deepe đọc rõ (con số "2.000" trong một bản OCR khác là lỗi quét, đã gỡ); ~7.000 (Vann 5/1965) — hai số này vẫn mâu thuẫn, có thể do Deepe đếm cả Địa phương quân và Nghĩa quân còn Vann chỉ đếm chủ lực. VC có vũ trang trong tỉnh 1965: ~2.500, có thể lên 4.000 (Deepe 9/1965); ~2.700 (Vann 5/1965) — hai số này khớp nhau. Thiết chế đầu tiên vào địa đạo: 3 Field Troop (Thomson, AWM) / lần thứ tư sau ARVN–Mỹ 1964–65 (Marett). Thương vong chiến đấu VC toàn cuộc [VN→]: "ít nhất 12.000" (Rough Guides), "hơn 10.000" (Travel Vietnam), 10.000/16.000 (VVAW 1987), "ít nhất 45.000" (History.com), 44.000+ tên ở đền Bến Dược (Madigan & West) — không nguồn ngoại quốc nào phân tích.

Mục 12

Kho lưu trữ và cách truy cập

KHO LƯU TRỮ THEO NƯỚC VÀ TÌNH TRẠNG TRUY CẬP“Phần lớn khối tài liệu gốc có thể đọc miễn phí từ Việt Nam trước khi cần đến NARA hay Vincennes.”MỸNARA College Park, RG 4729.000 cu. ft. giấy; NAID AdvisoryTeam 43 chưa định vịtại chỗDTIC~50 ORLL/COAAR theo số AD; mirrorOCR trên archive.orgmiễn phíTexas Tech, Vietnam CenterWillbanks, Foulke, Lafoon, Phillips,Bushong; bản đồ L7014chặn botLOC Veterans History Project~40–60 phỏng vấn gắn “Cu Chi,Vietnam”miễn phíMarshall Foundation, accession150ORLL 1966–71; debrief; hồ sơBergerud hộp 9–16tại chỗCIA CREST28 tài liệu “Cu Chi” mirror trênarchive.orgmiễn phí25thida.orgTropic Lightning News 1/1966–3/1971toàn văn HTMLmiễn phíEllsberg Papers (UMass)mirror archive.org, tiền tố ELSmiễn phíÚCAWM95 commanders’ diaries1 RAR 7/1; 3 Field Troop 4/1; mỗifile có PDF miễn phímiễn phíAWM — hiện vật, ảnh, phimREL35994, KEL/66/00xx/VN, F10652,F10653miễn phíPHÁPSHD Vincennes, GR 10 H10 H 1–6046; secteur de Hoc Mon4651–5573; JMO 5938–5958tại chỗANOM Aix-en-Provencechưa tiếp cậnchưa khảoentreprises-coloniales.frPDF đồn điền Bến Mương, Vinh-Phuoc,Bendu, Guyonnetmiễn phíANH · NHẬT · KHÁCTNA Discoverykhó có hơn tham chiếu thoáng quatrong điện tín Sài Gònchặn botBFI N-507127 (phim Burchett1964)qua Adam Matthew Socialism on Filmthuê baoBảo tàng NhậtTokyo Photographic Art Museum;Yokohama; Okinawamiễn phíVanderbilt TV News Archivebắt đầu 5/8/1968thuê baoNguồn: mục 12. “Tìm kiếm chặn bot nhưng không chặn trình duyệt” áp dụng cho TTU, NARA catalog, AWM và Trove.
Hình 33 Các kho lưu trữ theo nước và tình trạng truy cập.Dựng theo mục 12.

Hồ sơ Mỹ

NARA College Park, RG 472 (Records of the U.S. Forces in Southeast Asia, 1950–1975): 9.000 cu. ft. giấy; sub-group 472.3.10 CORDS 1958–73; 472.4.4 CORDS Military Regions (MR3); 472.4.9 "Records of division combat assistance teams and provincial advisory teams, 1964–73" — nơi hồ sơ Advisory Team 43 (Hậu Nghĩa) và các toán quận Củ Chi/Trảng Bàng/Đức Hoà/Đức Huệ phải nằm, nhưng NAID chưa định vị; 472.7.2 sư đoàn chiến đấu (không có sub-group riêng cho Sư đoàn 25); 472.7.6 đơn vị chiến thuật theo binh chủng (NARA Guide RG 472). Series chứa hồ sơ tiểu đoàn Sư đoàn 25: "Infantry Unit Records, 1965 – ca. 1973", NAID 1224999 (1/5 Mech 1966–70, 1/27 Inf 1966, v.v.), chưa số hoá; nhật ký S2/S3 hằng ngày là "bản kê cụ thể nhất" nhưng chưa có AD; yêu cầu qua [email protected] nêu tên series, đơn vị, ngày, loại hồ sơ (History Hub; NARA RG 472 page). NAID CORDS HQ: ACofS CORDS 10461568; Pacification Study Group 10459736; Reports and Analysis Directorate (HES, TFES) 10494039; Phung Hoang Directorate 10497275; Chieu Hoi 10498622; Territorial Security 10477262; Public Safety 10498004 (NARA CORDS). NAID CORDS MR3: Assistant Deputy 10497038; Phung Hoang Div 10459274; RF/PF Advisory Div 10458013; Chieu Hoi Div 10459273; PSYOP 10460060; New Life Div 10458957 (NARA MR3). CDEC (472.3.4, Special List 60) là tài liệu gốc Việt bị bắt, liệt kê như một phạm trù. Catalog (catalog.archives.gov) chặn bot nhưng mở với trình duyệt. Phim không trung chiến thuật RG 373/RG 342 chưa kiểm.

DTIC (apps.dtic.mil/sti/tr/pdf/AD<7 số>.pdf; mirror OCR https://archive.org/details/DTIC_<AD>): Crimp COAAR AD0388134; Hậu Nghĩa PSA debrief AD0523756; Simulmatics/Pearce Đức Lập ADA032188 (Part II), ADA032418 (Part 3); 1/5 Mech Coco Palms AD0394021; ORLL Sư đoàn 25: AD0391563 (30/4/1966), AD0391727 (30/8/1966), AD0385848 (31/10/1966), AD0390303 (19/5/1967), AD0504136 (19/8/1967), AD0388381 (14/11/1967), AD0390530 (14/2/1968), AD0392127 (31/7/1968), AD0395425 (1/8/1968), AD0502976 (1/2/1969), AD0504766 (1/5/1969), AD0506604 (1/8/1969), AD0508335 (1/11/1969), AD0509705 (27/5/1970), AD0512358 (26/10/1970), AD0514626 (15/3/1971); COAAR/LL: AD0385751 Kahala, AD0387618/AD0387619 Attleboro, AD0391115 Niagara/Cedar Falls, AD0387601 Ahina, AD0388999 Kolekole, AD0390361 Camden, AD0390664 Saratoga, AD0390871 Wilderness, AD0879681 Keystone Robin Bravo; Lữ đoàn 2 AD0500768, AD0517824; Lữ đoàn 3 AD0391485, AD0385641, AD0387363; Div Arty AD0392227, AD0394035, AD0395314, AD0501620, AD0504193, AD0507417, AD0509105; debrief AD0513164, AD0505393, AD0509875, AD0514361; 11th ACR AD0392230, AD0502458; CHECO Attleboro ADA486978; máy dò hầm AD0875016; USARV Battlefield Reports AD0831179; MACV "Hole Huntin'" AD0683375; Thayer vol. 9–10 ADA039316/ADA039317; MACV Command History 1969 ADA955261 (archive.org DTIC mirror query). Mirror không đầy đủ (thiếu ORLL tiểu đoàn 1/27, 2/27 1966–67; ORLL sư đoàn quý 2–4/1969).

UPA microfilm U.S. Armed Forces in Vietnam 1954–1975, Part Three: Reports of U.S. Army Operations (Kesaris/Lester 1983, ISBN 0-89093-446-0): Reel I/0015 Crimp; I/0358 Kahala; II/0220 Lanakai; III/0678 Ahina; IV/0828 Camden; IV/1034 Wilderness; V/0103 Saratoga; V/0236 Niagara/Cedar Falls; không online, hướng dẫn PDF miễn phí (UPA guide); King's College London MF 792–812 (King's).

CIA CREST: chuỗi "The Situation in Vietnam" (CIA-RDP79T00826A…) và sau; 28 tài liệu có "Cu Chi" mirror trên archive.org (identifier cia-readingroom-document-<id>), ví dụ 00011824 (19/3/1968), 06786688 (27/2/1968), 00133905 (ICEX 23/2/1968), 01435115 (6/3/1967), cia-rdp78t02095r000800070005-9 (OB Tết), 05015420 (4/1969), cia-rdp80t01719r000300270002-1 (bản đồ kiểm soát 1972) (archive.org CIA subset); bản gốc tại https://www.cia.gov/readingroom/document/<id> (chặn bot).

Texas Tech, Vietnam Center & Sam Johnson Vietnam Archive (ArchivesSpace vva.vietnam.ttu.edu; số item 10 chữ số = bộ sưu tập 4 + hộp 2 + folder 2 + item 3): 0030111006 "25th Division Operations (Cu Chi Area 1966)" (1/8 Arty Assn); 10400112007 (Foulke, 5/1968); 3400204002–003 (Willbanks, ORLL Support Command 1969); 23970220081 (Phillips, "re: Hau Nghia Province" 9/9/1966); 719568 (Bushong, bản nháp Mangold 1984); ảnh Lafoon VA029685–VA029794 (Cedar Falls), VA029816 (không ảnh căn cứ 1/1967); Saratoga AAR Lữ đoàn 2 13680139002A/B/C; Kalamazoo ORLL item 323548; Bartlett 4/1972 1070105005; CORDS MR3 1972 1070101003/1070102003/1070103002; HES hằng tháng F0157…; Daniels Collection (resource 2732); bản đồ L7014 (TTU 514762; TTU 20305). Tìm kiếm chặn bot; dùng Google `site:vva.vietnam.ttu.edu "Cu Chi"`; liên hệ [email protected].

Library of Congress Veterans History Project: ~40–60 phỏng vấn gắn "Cu Chi, Vietnam"; JSON: https://www.loc.gov/collections/veterans-history-project-collection/?q=%22cu+chi%22&fo=json ; ví dụ AFC/2001/001/103202 (Colaiacovo, 3/4 Cav), /4417 (Battle, 1/5 Mech, có bản gỡ), /107199 (Dean, B/2-27 1965–67), /50058 (Dailey, 125th Signal 1965–67), /52872 (Moran, 3/22); hai chưa số hoá: /117152 (Jenkins), /32269 (Nield) (LOC VHP).

George C. Marshall Foundation, Lexington VA, 25th Infantry Division Association Collection, accession 150 (tặng 12/1995, ~19–24 hộp): hộp 1–4 ORLL 1/1966–28/1/1971; hộp 5–6 sổ tay; hộp 7 Senior Officer Debriefing Reports 1967–1970; hộp 8 "Tropic Lightning Ambush" 1966; hộp 9–16 hồ sơ Bergerud; hộp 17 ảnh; hộp 19 "The Road to Cu Chi" (Joe Kalie); hộp 20 Blake (có "Battle of Hoa Nhut"); hộp 21 băng Fire Base Crook 6–7/6/1969 và kịch bản video "Tunnel Rats"; không số folder; tại chỗ, không nghiên cứu hộ; liên hệ Jeffrey Kozak 540-463-7103 x122; catalog đã chuyển sang library.marshallfoundation.org (Marshall finding aid; 25thida Archives).

25thida.org: Tropic Lightning News 1/1966–3/1971 toàn văn HTML (https://www.25thida.org/TLN/tlnV-NN.htm; 5-48 và 6-xx chỉ ảnh trang); Orientation Edition; Order of Battle; Associated Units (TLN index). Tìm toàn văn bằng Google `site:25thida.org/TLN "Cu Chi"`.

Ellsberg Papers (UMass Amherst; mirror archive.org, uploader mishasteier, tiền tố ELS): VisitToAnInsecureProvinceHauNghia (ELS021-036); HarnessingTheRevolutionInSouthVietnam (ELS021-009); VietnamNotesCorrespondenceAndMemos (thư Vann 1965, memo Porter 1966); JohnPaulVannLetterOnProgress (ELS035-008); EvaluationOfHopTacArea (ELS021-020); ThoughtsOnGVNVCControl (ELS027-081); ImpactOfTheVCWinter-SpringOffensive (ELS024-007) (archive.org Ellsberg memo).

Khác (Mỹ): FRUS 1961–63 vol. II doc. 116, vol. IV doc. 246; 1964–68 vol. I doc. 50 (history.state.gov); RAND D-20104, RM-4552-1, RM-4692-1, RM-5086-1, RM-4507/3, RM-5788, OP-258, P-3793 (rand.org/pubs; nhiều bản scan không lớp chữ); UNL Keever Papers (Deepe: items 11381, 15690, 10942); Briscoe Center (Rather; AP Wirephoto 1977 item 52770; Johnston 1985 item 42576); WGBH Open Vault (Tèo, Mỹ, Rogers 1981; phim NARA Cedar Falls); VHPA (vhpa.org/stories/CuChi69.pdf, sapper.pdf; chuyển ngữ AAR tại vhpa.org/KIA/panel/battle/); classic.bobcat.ws (lịch sử và AAR 1/5 Mech); UNT OH-0874; Digital Library of Georgia geh_vhpohr_733; USGS EarthExplorer (Declass 1/2/3; KML corona2; scan 30 USD/khung).

Hồ sơ Úc

AWM95 Australian Army commanders' diaries: lớp 7/1 = 1 RAR: 7/1/50 PART 1 (8–12/12/1965, C1374390), 7/1/53 (12/1965 annexes, C1374395), 7/1/54–7/1/57 (suy luận mạnh: tường thuật, annexes, nhật ký sĩ quan trực tháng 1/1966 = Crimp; C1374396–C1374399; RCDIG1029309–1029312; trang lỗi khi bị throttle), 7/1/58 (bản đồ 1/1966, C1374400), 7/1/67 (3/1966, C1374412); lớp 4/1 = 3 Field Troop (số item 1/1966 chưa lấy; duyệt từ C1374147); 8/1/4 = 161 Recce Flt tường thuật 1/1966 (C1374928); 1/3/x = HQ AFV (AWM95; C1374400). Mỗi file có PDF miễn phí. Hiện vật REL35994.001/.002, REL35992, REL35976.002, REL43475/43476; ảnh KEL/66/00xx/VN; phim F10652, F10653, AWM2016.2.11; thư viện LIB100022969. Tìm kiếm AWM chặn bot; Google `site:awm.gov.au "AWM95 7/1" "January 1966"`. NAA RecordSearch và Trove (Anubis) chỉ dùng được bằng trình duyệt; nominal roll DVA chặn bot.

Hồ sơ Pháp

SHD Vincennes, GR 10 H "Commandement et forces terrestres en Indochine (1867–1956)" (10 H 1–6046): Tome I (1990, 10 H 1–3143), Tome II (1987, 10 H 3144–6035; Sud-Vietnam 10 H 3735–5573; Cabinet 3735–3792 với "rapports politiques et monographies des provinces"; 2e bureau 3825–4364; zones/secteurs 4651–5573 gồm secteur de Hoc Mon và Tay Ninh; JMO des secteurs Sud-Vietnam 5938–5958; groupements/groupes mobiles 5977–6035), bổ sung 10 H 6036–6046; Cabinet "K Documentation" GR/10/H/280/1–286; 3e bureau "E Organisation territoriale" GR/10/H/2483–2508 (chỉ Bắc Việt); notice hành quân theo tên ark/1102982 (SHD ark/41437; Tome II PDF; notice ark/1102982). Tài khoản MindefConnect đang trục trặc; dùng mẫu đặt hồ sơ. Thứ tự đọc đề nghị: dossier Cuchi 1954, Hocmon 1951, Trang Bon 1951, Boi Loi 1952, An Nhou Tay 1949, Hévéas 1952, Michelin 1952, Triangle 1952 → cartons secteur de Hoc Mon/Tay Ninh → JMO 5938–5958 → bulletins 2e bureau → monographie Gia Định. ANOM (Aix): chưa tiếp cận; dự kiến fonds Haut-Commissariat, Gouvernement de la Cochinchine, Sûreté, tỉnh Gia Định. Gallica/RetroNews: báo thuộc địa đến 1941 có trên Gallica (BnF France-Vietnam portal); các số báo dẫn trong hồ sơ đồn điền (La Dépêche d'Indochine 1934–1937, Bulletin du Syndicat des planteurs de caoutchouc 1934–1942, Le Journal de Saïgon 28/2 và 8/3/1947) là điểm vào; cả hai công cụ tìm kiếm chặn bot. Bibliothèques numériques de la Défense: bản ghi Indochine Sud-Est Asiatique 1953–1954, Pagniez 1951. entreprises-coloniales.fr: PDF Pierre_Filhol_Cuchi, Plantations_Ben-Muong, Plantation_Vinh-Phuoc, Plantation_de_Bendu, Heveas_de_Benco, Alban_Guyonnet-Phu-My, Annuaire 1923, Morange 1910.

Anh, Nhật, khác

TNA Discovery chặn bot; khó có hơn tham chiếu thoáng qua trong điện tín Sài Gòn. BFI N-507127 (phim Burchett 1964) qua Adam Matthew Socialism on Film (thuê bao). Tokyo Photographic Art Museum (Okamura 1964), Yokohama Museum of Art (Sawada), Okinawa Prefecture (Ishikawa). Vanderbilt TV News Archive bắt đầu 5/8/1968; mục tiêu tìm: 26–28/2/1969, 8/11–15/12/1970, 28–30/4/1975 (Vanderbilt About).

Hồ sơ bình định và HES

NARA, hồ sơ điện tử: series "Hamlet Evaluation System (HES) Files, 1967–1974", NAID 4616225 — HAMLA Files (1967), HES Basic Master File (7/1969–1/1973), HES70 Files (1970–1971), cùng một HES Gazetteer riêng ánh xạ số USID sang tên, tỉnh và toạ độ. Hậu Nghĩa = mã tỉnh 25; mã quận chỉ duy nhất trong từng tỉnh và phải tra qua gazetteer trong RG 472. Access to Archival Databases không mở series này; yêu cầu qua Electronic Records Division, [email protected] (NARA 4616225; NARA AAD; tài liệu kỹ thuật HES70). Bản giấy tương đương: series "PROVINCE REPORTS: <TỈNH> [MACCORDS]" theo Chỉ thị liên hợp MACV/JUSPAO/USAID/OSA 4-67, bản mẫu Quảng Nam 221 trang cho 1968 (TTU 218997); mục Hậu Nghĩa chưa xác nhận. Bộ William G. Prince ở Cornell có series II "HES 70" 1968–1972, 0,7 cu. ft. (Cornell 449348).

DTIC, series debrief Cố vấn Trưởng tỉnh kỳ kết thúc 2/1973 (chuyển bằng thư Bowers 9/5/1973): AD0922369 (Bạc Liêu, Kiên Giang, Phong Dinh, Ba Xuyên); AD0921841 và AD0921842 (Phú Yên, Pleiku, Quảng Đức, Darlac); ADB001520 (Vĩnh Long). Tập Quân khu 3 chưa tìm ra — đó là tập sẽ chứa báo cáo Hậu Nghĩa cuối cùng. Riêng Bartlett (1971–72) ở AD0523756. Lưu ý truy cập: PDF trên apps.dtic.mil tải trực tiếp được bằng URL dù cổng tìm kiếm DTIC lỗi; nhưng `site:apps.dtic.mil "Hau Nghia"` trên Google rất nhiễu (bốn trong năm kết quả mới không chứa cụm từ ấy).

NARA RG 472, hồ sơ ban cố vấn: 472.4.9 "Records of division combat assistance teams and provincial advisory teams, 1964–73, arranged by team designation" — Advisory Team 43 (Hậu Nghĩa) phải nằm ở đây, chưa định vị được NAID. Ngoài ra, Bergerud xác nhận toàn bộ hồ sơ ban cố vấn Hậu Nghĩa và tài liệu CORDS ông dùng nằm ở Current History Branch, CMH — một địa chỉ khác NARA, chưa ai trong dự án này hỏi đến.

Kho khối XHCN và cánh tả: cái nào dùng được

Dùng được miễn phí ngay: Peking Review 1958–2016 toàn bản trên massline.org/PekingReview — ảnh trang, không chỉ mục toàn văn, phải tải theo năm rồi grep tại máy; bản tiếng Pháp, Đức, Nhật, Tây Ban Nha lưu song song. L'Unità toàn bộ trên archivio.unita.news theo dạng `/assets/main/YYYY/MM/DD/page_0NN.pdf` và `/assets/derived/YYYY/MM/DD/issue_full.pdf`, có OCR mà công cụ tìm kiếm chung lập chỉ mục (cổng tìm kiếm riêng lỗi, phải dùng `site:`). Báo Ba Lan thời chiến đã OCR trên Wielkopolska Biblioteka Cyfrowa. net-film.ru trả từng bản ghi phim kèm mô tả đến từng cảnh và link tải HD (ví dụ film-9339) — đúng độ chi tiết cần để tìm một đoạn Củ Chi trong loạt thời sự Новости дня 1965–1975, nhưng cổng tìm kiếm phải duyệt bằng trình duyệt người.

RÀO TRUY CẬP, ĐÃ XÁC ĐỊNH CHÍNH XÁCPhân biệt “chưa thử” với “không có”: mỗi rào dưới đây là một dạng cản trở cụ thể, không phải một kết quả rỗng.DÙNG ĐƯỢC MIỄN PHÍ NGAYPeking Review 1958–2016massline.org — ảnh trang, không chỉ mục toàn văn; tải theo năm rồi greptại máyL’Unità toàn bộarchivio.unita.news — có OCR; cổng tìm kiếm riêng lỗi, phải dùng site:Báo Ba Lan thời chiếnWielkopolska Biblioteka Cyfrowa — đã OCRnet-film.rutrả từng bản ghi phim kèm mô tả đến từng cảnh; cổng tìm kiếm phải duyệtbằng trình duyệt ngườiPHẢI ĐĂNG NHẬP HOẶC THUÊ BAOZEFYS DDR-Presseba nhật báo Đông Đức đã lập chỉ mục toàn văn; một phiên người là đủ đểgiải quyết dứt điểm câu hỏi Neues DeutschlandAdam Matthew Socialism on Filmbản ghi công khai, phim cần thuê bao — BFI N-507265 (Du Kích Củ Chi, 1967)và N-507127Russell Journal (McMaster)trả phíCHẶN BOT HOÀN TOÀNddr-presse.staatsbibliothek-berlin.dedefa-stiftung.detoàn bộ ecured.cunên các mục Marta Rojas, Raúl Valdés Vivó không đọc đượcKHÔNG CÓ KHO MỞ — TRẢ PHÍ HOẶC TẠI CHỖPravda và Izvestia thập niên 1960East View Digital Archive, qua nhiều thư viện nghiên cứuRevolución và Granma cho Marta Rojas 1965Biblioteca Nacional José Martí, La HabanaNhân dân Nhật báo; bản tin Xinhua tiếng Anhcổng trả phí; microfilmViệc rẻ nhất và đáng làm nhất còn lại: xin scan liên thư viện ~70 trang lời khai Tuck, Martinsen và Duncan trong bản in“Against the Crime of Silence” (Duffett 1968) — có trên giá tại Australian War Memorial, Texas A&M, Southern Cross, Colorado Mesa.
Hình 34 Bốn dạng rào truy cập đối với kho khối XHCN và cánh tả Tây Âu.Dựng theo mục 9 và mục 12.

Phải đăng nhập hoặc thuê bao: ZEFYS DDR-Presse của Staatsbibliothek zu Berlin — ba nhật báo Đông Đức đã lập chỉ mục toàn văn, bắt đăng nhập mới tìm (thẻ đọc SBB, Google, ORCID hay Shibboleth), và không công bố dạng URL tìm kiếm (ZEFYS DDR-Presse); một phiên người là đủ để giải quyết dứt điểm câu hỏi Neues Deutschland. Adam Matthew Socialism on Film: bản ghi công khai, phim cần thuê bao — hai mục cần xem là BFI N-507265 (Du Kích Củ Chi, 1967) và N-507127 (phim theo Burchett, 1964); cổng tìm kiếm không chạy bằng máy nên có thể còn mục Củ Chi khác chưa liệt kê; hoặc xin xem trực tiếp tại BFI. Russell Journal (McMaster) trả phí.

Chặn bot hoàn toàn: ddr-presse.staatsbibliothek-berlin.de; defa-stiftung.de; toàn bộ ecured.cu (nên các mục Marta Rojas, Raúl Valdés Vivó, "Vietnam del Sur" không đọc được; dùng thư mục Cuba hay Tây Ban Nha thay thế).

Không có kho mở, phải trả phí hoặc đến tại chỗ: Pravda và Izvestia thập niên 1960 (East View Pravda Digital Archive / Izvestiia Digital Archive, qua nhiều thư viện nghiên cứu); Revolución và Granma cho các bài Marta Rojas 1965 (Biblioteca Nacional José Martí ở La Habana, Instituto de Historia de Cuba, hoặc microfilm trong một bộ sưu tập Mỹ La-tinh ở Mỹ/châu Âu); Nhân dân Nhật báo; bản tin Xinhua tiếng Anh (microfilm).

Bản in cần scan liên thư viện — việc rẻ nhất và đáng làm nhất còn lại: Against the Crime of Silence: Proceedings of the Russell International War Crimes Tribunal, John Duffett chủ biên, Bertrand Russell Peace Foundation, New York 1968, ix + 662 tr. — cần phần lời khai Tuck (14 tr.), Martinsen (23 tr.), Duncan (31 tr.), tổng ~70 trang. Có trên giá tại Australian War Memorial, số gọi 341.69 I61a, barcode AWM016813 (AWM LIB17406); Texas A&M JX6731 W3 I46 1967 (Texas A&M); Southern Cross University; Colorado Mesa. Tập đi kèm: Prevent the Crime of Silence, Peter Weiss và Ken Coates chủ biên, Allen Lane 1971, 384 tr.

Trình tự tìm kiếm đề nghị cho người làm việc trực tuyến từ Việt Nam (miễn phí trước)

  1. archive.org DTIC mirror: tải ~50 PDF Sư đoàn 25 theo số AD; đọc trước AD0388134 (Crimp), AD0391563 (quý đầu ở Củ Chi), AD0504136, AD0388381, AD0392127, AD0502976, AD0509705, AD0879681, AD0523756 (Hậu Nghĩa 1971–72).
  2. AWM95: tải 1 RAR 7/1/53–7/1/58, 7/1/67; 161 Recce 8/1/4; 3 Field Troop 4/1/x; HQ AFV 1/3/x.
  3. CIA qua archive.org (28 item "Cu Chi"; thêm "Hau Nghia" cho ~100 item), rồi bản gốc cia.gov.
  4. LOC VHP JSON: phát trực tuyến ~40–60 phỏng vấn.
  5. Ellsberg Papers trên archive.org (ELS021-036, ELS021-009, VietnamNotesCorrespondenceAndMemos) và FRUS.
  6. Tropic Lightning News 1966–1971 trên 25thida.org (Google site: search).
  7. CMH qua GovInfo (Villard gpo88253; Carland, MacGarrigle, Rogers, Traas qua PURL/GovInfo) và Rogers HTML trên history.army.mil.
  8. TTU ArchivesSpace (trình duyệt): "Cu Chi", "Hau Nghia", "Trang Bang", "Ho Bo", "Boi Loi", "Filhol", "25th Infantry Division"; tải Willbanks, Foulke, Lafoon, Phillips, 1/8 Arty; bản đồ L7014.
  9. RAND: D-20104, RM-4552-1, RM-5086-1 (scan); OP-258.
  10. USGS EarthExplorer: duyệt khung CORONA/KH-7/KH-9 miễn phí; đặt scan khung không mây.
  11. Yêu cầu miễn phí qua trung gian: NARA RR2R (series NAID 1224999, 1/5 Mech 1966–70, nhật ký 1/1966; CORDS MR3; Team 43); TTU [email protected]; Marshall Foundation (hộp 1–4, 7, 9–16).
  12. Trả phí/tại chỗ: NARA College Park (RG 472 nhật ký, CORDS MR3, advisory teams; RG 373 phim không); UPA microfilm tại thư viện Mỹ; SHD Vincennes và ANOM; Vanderbilt; Adam Matthew.
TRÌNH TỰ TÌM KIẾM ĐỀ NGHỊ — MIỄN PHÍ TRƯỚC“Từ Việt Nam không cần VPN cho archive.org, DTIC, AWM, LOC, GovInfo, history.state.gov; cia.gov có thể cần.”TRỰC TUYẾN, MIỄN PHÍ1archive.org — bản mirror DTICtải ~50 PDF Sư đoàn 25 theo số AD; đọc trước AD0388134 (Crimp), AD0391563,AD0504136, AD0388381, AD0392127, AD0502976, AD0509705, AD0879681, AD05237562AWM95 — nhật ký chỉ huy Úc1 RAR 7/1/53–7/1/58 và 7/1/67; 161 Recce 8/1/4; 3 Field Troop 4/1/x; HQ AFV 1/3/x3CIA qua archive.org28 item có “Cu Chi”; thêm “Hau Nghia” cho ~100 item, rồi bản gốc cia.gov4LOC Veterans History ProjectJSON: phát trực tuyến ~40–60 phỏng vấn5Ellsberg Papers trên archive.orgELS021-036, ELS021-009, VietnamNotesCorrespondenceAndMemos — và FRUS6Tropic Lightning News 1966–1971toàn văn HTML trên 25thida.org; tìm bằng Google site: search7CMH qua GovInfoVillard gpo88253; Carland, MacGarrigle, Rogers, Traas qua PURL; Rogers HTML trênhistory.army.mil8TTU ArchivesSpace (trình duyệt)“Cu Chi”, “Hau Nghia”, “Trang Bang”, “Ho Bo”, “Boi Loi”, “Filhol”; tải Willbanks,Foulke, Lafoon, Phillips; bản đồ L70149RANDD-20104, RM-4552-1, RM-5086-1 (bản scan); OP-25810USGS EarthExplorerduyệt khung CORONA / KH-7 / KH-9 miễn phí; đặt scan khung không mây11Yêu cầu miễn phí qua trung gianNARA RR2R (series NAID 1224999; 1/5 Mech 1966–70; nhật ký 1/1966; CORDS MR3; Team43) · TTU [email protected] · Marshall Foundation (hộp 1–4, 7, 9–16)12Trả phí hoặc tại chỗNARA College Park (RG 472 nhật ký, CORDS MR3, advisory teams; RG 373 phim không) ·UPA microfilm tại thư viện Mỹ · SHD Vincennes và ANOM · Vanderbilt · Adam MatthewNguồn: mục 12 “Trình tự tìm kiếm đề nghị cho người làm việc trực tuyến từ Việt Nam”.
Hình 35 Trình tự tìm kiếm đề nghị, xếp theo chi phí: miễn phí trực tuyến, qua trung gian, rồi trả phí hoặc tại chỗ.Dựng theo danh sách ở trên.

Từ Việt Nam không cần VPN cho archive.org, DTIC, AWM, LOC, GovInfo, history.state.gov; cia.gov có thể cần; Trove, AWM, NARA catalog chặn bot nhưng không chặn trình duyệt.

Blocked / unverified (từ các ghi chú)

  • Số hit trong catalog gốc TTU, NARA, AWM, DTIC, CIA, Trove, TNA, HathiTrust, Gallica, RetroNews, Vanderbilt: chưa kiểm (chặn bot/JS).
  • NAID series Advisory Team 43 Hậu Nghĩa và các toán quận trong RG 472 472.4.9: chưa định vị.
  • AWM95 4/1 (3 Field Troop) số item 1/1966; AWM95 7/1/54–57 chưa mở (throttle).
  • SHD GR 10 H: cartons secteur de Hoc Mon/Tay Ninh, JMO 5938–5958, dossier Cuchi 1954: chỉ có trong PDF bị cắt/phòng đọc; ANOM chưa tiếp cận.
  • CMH PDF (Carland, MacGarrigle, Traas, Rogers toàn văn, Ploger sau tr. 46), purl.fdlp.gov, cgsc.contentdm: chặn.
  • MACV Command History 1969 Vol. III (ADA955261); CHECO "The Defense of Saigon"; USACE Vignette 062 (phiên Mỹ); ORLL Sư đoàn 25 quý 2–4/1969 (DTIC AD0391091 lỗi, danh tính chưa rõ); Div Arty "inclosure 1" 26/2/1969.
  • NYT 10–11/1/1966, 25/5/1975; New Yorker 15/7/1967; Time 1966–1967; Newsweek 10/3/1969 gốc; Washington Post 10/3/2008; Google News (Arnett 14/10/1977).
  • Le Monde, Spiegel, Zeit, Stern, FAZ, Delpher, L'Humanité (Riffaud), RetroNews, Persée, Cairn, theses.fr: không có bài nào 1965–1975 được kiểm.
  • Pravda, Neues Deutschland, Trybuna Ludu, Rudé právo, Népszabadság, Granma, Xinhua, L'Unità; DEFA, net-film.ru, ICAIC, WFD: chưa khảo.
  • Toàn văn Mangold & Penycate, Bergerud 1991/1993, Herrington, Burchett 1964/1965, Riffaud 1965, McNeill 1993, McAulay 2005, MacGregor/Thomson: cho mượn có kiểm soát hoặc chặn; trang cụ thể chưa đối chiếu.
  • Bản đồ L7014: tên mảnh 6330 IV / 6230 I chưa xác nhận.
  • RG 373/RG 342 phim không trung; băng HERBS Hậu Nghĩa/Bình Dương; Buckingham Ranch Hand 1982; Sherwood Forest/Pink Rose chi tiết.
  • Honda Katsuichi có đi cùng Sư đoàn 25 ở Củ Chi hay không; Ishikawa có ảnh Củ Chi hay không; Henri Huet, Burrows, Rentmeester, Faas thời chiến ở Củ Chi.
  • Phim Burchett 1964–1965 "ở Pháp"; INA chưa tra.
  • Tính xác thực con số "16.000/6.000" và "12.000 chết": không nguồn ngoại quốc nào phân tích.
  • Burkett Stolen Valor về nhân chứng Bowman của Bergerud: chưa kiểm.

Cập nhật sau vòng khảo sát thứ hai. Đã gỡ: mâu thuẫn 2.000/20.000 quân chính phủ Hậu Nghĩa 1965 (bản cắt báo Deepe đọc rõ: ~20.000); cơ chế vì sao không có chuỗi HES cấp quận; niên đại phim Karmen và loạt phim H&S; nhiệm kỳ Herrington. Mới chặn hoặc mới biết là không dùng được bằng máy: máy chủ Google Books không nằm trong danh sách egress cho phép của phiên này, nên mọi tìm kiếm đoạn trích trong Bergerud, Herrington, Sheehan, Moyar, Hunt đều bất khả từ đây; archive.org cho mượn có kiểm soát chặn cả lớp OCR lẫn mọi điểm cuối "search inside"; trên vva.vietnam.ttu.edu chỉ trang siêu dữ liệu `/repositories/2/digital_objects/<id>` chạy, còn `images.php`, `items.php` và giao diện tìm kiếm đều chặn bot — tức tài liệu TTU lập mục được nhưng không đọc được; ecured.cu, defa-stiftung.de, ddr-presse.staatsbibliothek-berlin.de chặn bot; ZEFYS đòi đăng nhập; massline.org Peking Review không có chỉ mục toàn văn. Vẫn treo sau hai vòng: chưa có bất kỳ số HES cấp quận Củ Chi nào; chưa có con số VCI bị trung hoà nào cho Củ Chi hay Hậu Nghĩa; chưa có tự sự nguồn ngoại quốc nào về quận Củ Chi trong đợt tấn công 1972; chưa đọc được trang nào của Bergerud, Sheehan hay Race; và chưa có văn bản báo chí khối XHCN thời chiến nào nêu Củ Chi.

Mục 13

Thư mục

Hồ sơ quân sự Mỹ (giải mật)

Sử chính thức

Nguồn Úc

Nguồn Pháp / châu Âu

Khối XHCN / thân Mặt trận

Báo chí đương thời (phương Tây)

Sử học và hồi ký sau 1975

Phim tài liệu

Kho lưu trữ (trang vào)

Bổ sung sau vòng khảo sát thứ hai

Khối XHCN, cánh tả và Toà án Russell

Bình định, HES và hồ sơ cố vấn

Ghi công và nguồn hình

Văn bản: giữ nguyên toàn văn bản gốc. Trình bày, mục lục, đánh số mục, hình vẽ dữ liệu và chú thích hình là phần thêm của bản này.

Hình vẽ dữ liệu (35 hình đánh số “Hình”) được dựng lại từ chính các bảng và đoạn văn của văn bản; mỗi chú thích ghi rõ lấy từ mục nào. Không một con số nào trong hình được lấy từ ngoài văn bản.

Ảnh tư liệu lấy từ Wikimedia Commons. Phần lớn là ảnh của quân đội Mỹ thuộc phạm vi công cộng (tác phẩm của viên chức liên bang Hoa Kỳ trong khi thi hành công vụ); các ảnh còn lại dùng theo giấy phép Creative Commons ghi kèm từng mục dưới đây.

Another of the tunnel entrances which have been widened for tourists (31759111950) — shankar s. from Dubai, united arab emirates · CC BY 2.0. CC BY 2.0. https://commons.wikimedia.org/wiki/File:Another_of_the_tunnel_entrances_which_have_been_widened_for_tourists_(31759111950).jpg
Cu Chi Tunnel Entry (1) — Thomas Schoch · CC BY-SA 3.0. CC BY-SA 3.0. https://commons.wikimedia.org/wiki/File:Cu_Chi_Tunnel_Entry_(1).jpg
Cu Chi Tunnels Vietnam war — Andre Hospers · CC BY-SA 4.0. CC BY-SA 4.0. https://commons.wikimedia.org/wiki/File:Cu_Chi_Tunnels_Vietnam_war.jpg
1RAR soldier with Vietcong weapons captured during Operation Crimp, January 1966 — Shannon, Michael Barry · CC0. CC0. https://commons.wikimedia.org/wiki/File:1RAR_soldier_with_Vietcong_weapons_captured_during_Operation_Crimp,_January_1966.jpg
25th Aviation, 25th Infantry Division UH-1 loaded with CS gas canisters — NARA photo 111-CCV-612-SC652898 by SP5 D.R. Goff · Public domain. Public domain. https://commons.wikimedia.org/wiki/File:25th_Aviation,_25th_Infantry_Division_UH-1_loaded_with_CS_gas_canisters.jpg
25th Infantry Division medic treats a Vietnamese girl — PFC Thomas L. Larsen · Public domain. Public domain. https://commons.wikimedia.org/wiki/File:25th_Infantry_Division_medic_treats_a_Vietnamese_girl.jpg
A section of Route 14 cleared by Rome Plows during Operation Cedar Falls — SSG Robert R. Ellis · Public domain. Public domain. https://commons.wikimedia.org/wiki/File:A_section_of_Route_14_cleared_by_Rome_Plows_during_Operation_Cedar_Falls.jpg
American tunnel rat during Operation Crimp, January 1966 — Center of Military History · Public domain. Public domain. https://commons.wikimedia.org/wiki/File:American_tunnel_rat_during_Operation_Crimp,_January_1966.PNG
Australian Soldier Operation Crimp — Marshall, S.L.A. · Public domain. Public domain. https://commons.wikimedia.org/wiki/File:Australian_Soldier_Operation_Crimp.jpg
Australians OP Crimp Vietnam — Marshall, S.L.A. · Public domain. Public domain. https://commons.wikimedia.org/wiki/File:Australians_OP_Crimp_Vietnam.jpg
B Company, 65th Engineer Battalion D-7 bulldozer during Operation Cedar Falls — SSG Franciso J. Salas · Public domain. Public domain. https://commons.wikimedia.org/wiki/File:B_Company,_65th_Engineer_Battalion_D-7_bulldozer_during_Operation_Cedar_Falls.jpg
BG Robert H. York, LTC John Paul Vann and 1st Battalion, 7th Division advisor at Duc Hoa — PFC Jose C. Rivera · Public domain. Public domain. https://commons.wikimedia.org/wiki/File:BG_Robert_H._York,_LTC_John_Paul_Vann_and_1st_Battalion,_7th_Division_advisor_at_Duc_Hoa.jpg
Cedar Falls destroyed house, January 1967 — Office of History, Headquarters, U.S. Army Corps of Engineers USACE LNO trip slides Vietnam 6.222 · Public domain. Public domain. https://commons.wikimedia.org/wiki/File:Cedar_Falls_destroyed_house,_January_1967.png
Child receives medical treatment during Operation Cedar Falls — SSGT Francisco J. Salas · Public domain. Public domain. https://commons.wikimedia.org/wiki/File:Child_receives_medical_treatment_during_Operation_Cedar_Falls.jpg
Company B 1st Battalion, 28th Infantryman in a VC tunnel — PFC Robert C. Lafoon · Public domain. Public domain. https://commons.wikimedia.org/wiki/File:Company_B_1st_Battalion,_28th_Infantryman_in_a_VC_tunnel.jpg
Destroyed helicopter, Cu Chi Base Camp, 1969 — US Army · Public domain. Public domain. https://commons.wikimedia.org/wiki/File:Destroyed_helicopter,_Cu_Chi_Base_Camp,_1969.jpg
General William C. Westmoreland, COMUSMACV and General Frederic C. Weyand view plaques at Cu Chi Base Camp — SPC Peter P. Ruplenas · Public domain. Public domain. https://commons.wikimedia.org/wiki/File:General_William_C._Westmoreland,_COMUSMACV_and_General_Frederic_C._Weyand_view_plaques_at_Cu_Chi_Base_Camp.jpg
HD-16 tractor equipped with the Rome Plow clearing vegetation during Operation Cedar Falls — SSG Robert R. Ellis · Public domain. Public domain. https://commons.wikimedia.org/wiki/File:HD-16_tractor_equipped_with_the_Rome_Plow_clearing_vegetation_during_Operation_Cedar_Falls.jpg
John Paul Vann — USOM/Office of Rural Affairs, Saigon. Photograph VA041055, No Date, Ogden Williams Collection, The Vietnam Archive, Texas Tech University. · Public domain. Public domain. https://commons.wikimedia.org/wiki/File:John_Paul_Vann.jpg
Jungle clearing, Operation Cedar Falls, 26 January 1967 — NARA photo 111-CCV-345-CC38209 by SSG Franciso Salas · Public domain. Public domain. https://commons.wikimedia.org/wiki/File:Jungle_clearing,_Operation_Cedar_Falls,_26_January_1967.jpg
Kunia operational area, September 1967 — Office of History, Headquarters, U.S. Army Corps of Engineers USACE LNO trip slides Vietnam 9.103 · Public domain. Public domain. https://commons.wikimedia.org/wiki/File:Kunia_operational_area,_September_1967.png
Kunia Rome Plows, September 1967 — Office of History, Headquarters, U.S. Army Corps of Engineers USACE LNO trip slides Vietnam 9.105 · Public domain. Public domain. https://commons.wikimedia.org/wiki/File:Kunia_Rome_Plows,_September_1967.png
Lightning Mines, Boobytraps and Tunnel Training Center at Cu Chi Base Camp — PFC Thomas L. Larsen · Public domain. Public domain. https://commons.wikimedia.org/wiki/File:Lightning_Mines,_Boobytraps_and_Tunnel_Training_Center_at_Cu_Chi_Base_Camp.jpg
M48 in Operation Cedar Falls, 17 January 1967 — NARA photo 111-CCV-345-CC38111 by SP5 Robert C. Lafoon · Public domain. Public domain. https://commons.wikimedia.org/wiki/File:M48_in_Operation_Cedar_Falls,_17_January_1967.jpg
NARA 111-CCV-529-CC38112 Ronald A. Payne checking tunnel entrance Operation Cedar Falls 1967 — Photographer SP4 Robert C. Lafoon, Department of the Army Special Photo Office · Public domain. Public domain. https://commons.wikimedia.org/wiki/File:NARA_111-CCV-529-CC38112_Ronald_A._Payne_checking_tunnel_entrance_Operation_Cedar_Falls_1967.jpg
NARA 111-CCV-7-CC73310 Aerial view of Cu Chi Base Camp 1970 — SPF William F. Abbott, DASPO · Public domain. Public domain. https://commons.wikimedia.org/wiki/File:NARA_111-CCV-7-CC73310_Aerial_view_of_Cu_Chi_Base_Camp_1970.jpg
Operation Cedar Falls map — Department of the Army · Public domain. Public domain. https://commons.wikimedia.org/wiki/File:Operation_Cedar_Falls_map.jpg
Operation Crimp Tunnels — Marshall, S.L.A. · Public domain. Public domain. https://commons.wikimedia.org/wiki/File:Operation_Crimp_Tunnels.jpg
Replacement troops joining the 25th Infantry Division receive boobytrap training — PFC Thomas L. Larsen · Public domain. Public domain. https://commons.wikimedia.org/wiki/File:Replacement_troops_joining_the_25th_Infantry_Division_receive_boobytrap_training.jpg
Sgt. Ronald H. Payne Tunnel Rat Vietnam War 1967 — Public domain. Public domain. https://commons.wikimedia.org/wiki/File:Sgt._Ronald_H._Payne_Tunnel_Rat_Vietnam_War_1967.jpg
Tunnel rats — Public domain. Public domain. https://commons.wikimedia.org/wiki/File:Tunnel_rats.jpg
US 105mm howitizer firing during Operation Crimp, January 1966 — Center of Military History · Public domain. Public domain. https://commons.wikimedia.org/wiki/File:US_105mm_howitizer_firing_during_Operation_Crimp,_January_1966.PNG
VC prisoners, Operation Cedar Falls, 19 January 1967 — NARA photo 111-CCV-345-CC38316 by SSG Edward Kane · Public domain. Public domain. https://commons.wikimedia.org/wiki/File:VC_prisoners,_Operation_Cedar_Falls,_19_January_1967.jpg
Vietnamtunnel — Howard C. Breedlove, SSG, Photographer; US Army Signal Corps · Public domain. Public domain. https://commons.wikimedia.org/wiki/File:Vietnamtunnel.jpg

— Bốc Dịch Đại Toàn, Vi Nhật Sơn · bocdichvotranh.com

Đọc tiếp: Các bài lịch sử khác Thư viện nghiên cứu