Thuế hai miền Việt Nam 1955–1975
Biên soạn Vi Nhật Sơn ·
Trong hai mươi năm 1955–1975, không bên nào ở Việt Nam sống bằng thuế theo nghĩa thông thường: miền Nam được viện trợ Mỹ trả thay phần lớn ngân sách, miền…
Luận điểm
Trong hai mươi năm 1955–1975, không bên nào ở Việt Nam sống bằng thuế theo nghĩa thông thường: miền Nam được viện trợ Mỹ trả thay phần lớn ngân sách, miền Bắc lấy thặng dư qua giá và qua xí nghiệp quốc doanh rồi được khối xã hội chủ nghĩa bù phần còn lại, và Mặt trận ở miền Nam thu thuế bằng thóc và bằng tiền mặt ngay trong vùng đối phương kiểm soát. Thuế là điểm mù của sử chiến tranh vì cả ba hệ đều có lý do giấu nó: Sài Gòn không muốn thừa nhận tỷ lệ thuế thấp, Hà Nội không gọi nghĩa vụ lương thực là thuế, Mặt trận không công bố sổ thu.
Bài này phân biệt hai loại thuế:
- Thuế hiện: khoản thu có tên trong luật, có biểu thuế, có cơ quan thu (quan thuế, thuế nông nghiệp, thuế công thương nghiệp, thuế trị giá gia tăng).
- Thuế ẩn: thặng dư bị lấy đi mà không gọi là thuế: chênh lệch giữa giá chỉ đạo và giá thị trường khi nông dân phải bán thóc cho nhà nước, lạm phát do in tiền bù thâm hụt, lao động nghĩa vụ (dân công), và cả quỹ đối giá viện trợ mà về bản chất là người đóng thuế Mỹ trả cho ngân sách Sài Gòn.
Khung thời gian chia bốn: 1955–1960 (dựng bộ máy), 1961–1964 (chiến tranh đặc biệt và hợp tác hóa), 1965–1972 (chiến tranh toàn diện), 1973–1975 (sau Paris, cắt viện trợ). Mỗi mục ghi rõ con số nào có nguồn, con số nào là ước lượng. Nguồn chính: Dacy, Foreign Aid, War, and Economic Development: South Vietnam 1955–1975 và nghiên cứu IDA The Fiscal System of Wartime Vietnam; Taylor (chủ biên), Voices from the Second Republic; hồi ức Phạm Kim Ngọc; Thông tư 03-TC-NN 1964 về ổn định thuế nông nghiệp; bài tổng kết của ngành tài chính Việt Nam về giai đoạn 1965–1975; các văn kiện FRUS và CIA đã giải mật.
Di sản 1945–1954: hai bộ máy thuế đối lập trước khi chia đôi
Năm 1954, hai miền thừa kế hai triết lý thuế khác nhau đến mức không thể trộn: Pháp để lại một hệ thuế gián thu đô thị, Việt Minh để lại một hệ thuế trực thu nông thôn thu bằng thóc.
Hệ Pháp (Sài Gòn thừa kế). Nguồn thu chính là quan thuế, thuế tiêu thụ và các độc quyền; thuế trực thu yếu. Phạm Kim Ngọc mô tả hệ thống này: không khai thuế không phải tội hình sự, thuế lợi tức chỉ đòi được qua tòa dân sự, cơ quan thuế ấn định tùy tiện vì tiểu thương không có sổ sách, và mức ấn định thường thấp xa số thực nợ (hồi ức Phạm Kim Ngọc). Luật thuế miền Nam đến đầu thập niên 1970 vẫn phần lớn là bản dịch luật Pháp (Taylor, Voices from the Second Republic).
Hệ Việt Minh (Hà Nội thừa kế). Sắc lệnh thuế nông nghiệp năm 1951 gộp mọi khoản đảm phụ, công lương, thuế điền thành một thứ thuế duy nhất thu bằng thóc, tính theo hoa lợi bình quân đầu người với biểu lũy tiến (ước lượng: từ khoảng 6% tới tối đa 45% hoa lợi, có ngưỡng miễn). Cùng năm ra đời thuế công thương nghiệp và Ngân hàng Quốc gia. Đây là lần đầu một chính quyền Việt Nam thu thuế trực tiếp trên sản lượng nông nghiệp theo thang lũy tiến, thay cho thuế thân và thuế điền cố định của Pháp.
Điểm chung duy nhất: cả hai hệ đều chưa từng thu đủ để tự nuôi mình. Pháp tài trợ Đông Dương bằng ngân sách chính quốc và tỉ giá piastre; Việt Minh tài trợ kháng chiến bằng viện trợ Trung Quốc từ 1950 và bằng thóc thuế. Hai miền sau 1955 lặp lại đúng mô hình đó với hai nhà bảo trợ mới.
Miền Bắc 1955–1960: thuế nông nghiệp là trục, rồi nhà nước thay thuế bằng sở hữu
Trong năm năm đầu, thuế nông nghiệp thu bằng thóc là nguồn thu trong nước lớn nhất của miền Bắc, nhưng đến 1960 nhà nước đã chuyển sang một cơ chế khác hẳn: thay vì đánh thuế lên tư nhân, nó sở hữu luôn công thương nghiệp và tổ chức nông dân vào hợp tác xã, để lấy thặng dư trực tiếp.
Thuế nông nghiệp sau cải cách ruộng đất. Cải cách ruộng đất 1953–1956 xóa địa chủ và chia ruộng, tức là xóa luôn lớp người trả thuế lũy tiến cao nhất; cơ sở thuế trở thành hàng triệu hộ nhỏ. Nhà nước đáp lại bằng cách đơn giản hóa: năm 1956 quy định nguyên tắc thu thuế nông nghiệp ở miền núi (Nghị định 1056/TTg, 22/9/1956), và năm 1958 ấn định sản lượng thường niên làm căn cứ tính thuế cho từng thửa, con số này sau đó được giữ nguyên tới 1965 dù sản lượng thực tăng (Thông tư 03-TC-NN, 1964). Chính sách mười điểm khuyến khích sản xuất (Nghị định 410-TTg) miễn thuế cho đất tăng vụ ở miền núi.
Thuế công thương nghiệp và cải tạo 1958–1960. Thuế doanh nghiệp, thuế hàng hóa và thuế sát sinh đánh vào tư thương và tiểu chủ; nhưng từ 1958 chính sách là cải tạo: công tư hợp doanh, hợp tác xã thủ công, quốc hữu hóa thương nghiệp bán buôn. Kết quả về mặt tài chính là thuế công thương nghiệp thu hẹp dần cơ sở, và thu quốc doanh (lợi nhuận và chênh lệch giá nộp từ xí nghiệp nhà nước) trở thành nguồn thay thế. Đây là bước ngoặt về bản chất: nhà nước không cần thu thuế từ một doanh nghiệp mà nó sở hữu, nó chỉ cần định giá.
Viện trợ. Trung Quốc và Liên Xô cấp hàng hóa, thiết bị và chuyên gia cho kế hoạch ba năm 1958–1960; trong ngân sách, phần viện trợ xuất hiện dưới dạng hàng viện trợ bán ra thu tiền (thu bán hàng viện trợ). Không có con số công bố chính thức về tỷ trọng viện trợ trong tổng thu giai đoạn này; các ước lượng phương Tây đặt viện trợ ở mức một phần ba tới một nửa đầu tư nhà nước. Ghi là ước lượng.
Thuế ẩn đã xuất hiện. Cùng với hợp tác hóa 1958–1960, nhà nước lập nghĩa vụ bán lương thực: ngoài thuế, hợp tác xã phải bán cho nhà nước một lượng thóc theo giá chỉ đạo thấp hơn giá thị trường. Phần chênh lệch là thuế không tên, và từ 1960 nó lớn hơn thuế nông nghiệp chính thức.
Miền Bắc 1961–1975: thuế đóng băng, giá làm việc của thuế, viện trợ lấp phần còn lại
Từ 1961, miền Bắc giữ thuế nông nghiệp gần như cố định trên danh nghĩa và chuyển toàn bộ sức thu sang ba kênh không gọi là thuế: nghĩa vụ bán lương thực theo giá chỉ đạo, thu quốc doanh, và viện trợ. Số thu ngân sách giai đoạn 1966–1973 tăng bình quân 12,7%/năm, 1973 gấp 2,3 lần 1966 (Thời báo Tài chính) — nhưng phần lớn mức tăng đó đến từ hàng viện trợ bán ra, không phải từ thuế.
Thuế nông nghiệp: ổn định 1963–1965 rồi kéo dài suốt chiến tranh. Thông tư 120-TTg (1963) và 03-TC-NN (1964) ổn định nghĩa vụ thuế nông nghiệp trong ba năm: sản lượng tính thuế giữ ở mức thường niên ấn định năm 1958, thuế suất giữ ở mức 1961, không điều chỉnh dù sản lượng thực đã tăng cao hơn nhiều; hợp tác xã nộp theo thuế suất bình quân, biểu lũy tiến không còn áp dụng cho hộ mới; hợp tác xã trồng lúa nộp toàn bộ bằng thóc, bằng số thuế 1963 trừ quỹ giữ lại 3–6% tùy vùng và bậc hợp tác xã (Thông tư 03-TC-NN). Hệ quả: thuế suất thực trên sản lượng thực giảm dần theo thời gian; nhà nước chủ ý để thuế thành một khoản cố định nhỏ nhằm khuyến khích tăng sản lượng, và lấy phần tăng đó qua kênh khác. Trong chiến tranh 1965–1975, nhà nước giữ nguyên mức đóng góp để thu nhanh và khuyến khích sản xuất (Thời báo Tài chính).
Nghĩa vụ lương thực: thuế thật nằm ở đây. Ngoài thuế, mỗi hợp tác xã có chỉ tiêu bán thóc cho nhà nước theo giá chỉ đạo. Giá chỉ đạo thấp hơn giá thị trường tự do nhiều lần trong thời chiến; chênh lệch ấy là khoản chuyển giao từ nông dân sang ngân sách và quân đội, không ghi trong sổ thuế. Thu mua trong nước năm 1975 đạt 158,2% mức 1964, bằng 60–70% doanh số bán lẻ có tổ chức, và thị trường có tổ chức chi phối 75–80% tổng bán lẻ xã hội (Bộ Công Thương, 1965–1975). Mặt kia của cùng cơ chế là tem phiếu: dân phi nông nghiệp nhận định lượng lương thực khoảng 13–24 kg/tháng, gạo chỉ là một phần, còn lại ngô, khoai, sắn (Nghiên cứu lịch sử). Sản xuất lương thực trong nước chỉ đáp ứng khoảng 85–90% nhu cầu; trước vụ xuân 1973 cần nhập khoảng 500.000 tấn; gạo viện trợ Trung Quốc có năm chiếm 15–20% tiêu dùng lương thực (cùng nguồn, số ước lượng).
Thuế công thương nghiệp 1966. Điều lệ tháng 1/1966 quy định đối tượng, căn cứ, thuế suất và biểu thuế, phân biệt sản xuất, vận tải, xây dựng, dịch vụ, ăn uống, thương nghiệp; thuế lợi tức hợp tác xã tính trên thu nhập bình quân xã viên; miễn tạm thời cho cơ sở dùng phế liệu hoặc nguyên liệu địa phương, giảm cho cơ sở sơ tán (Thời báo Tài chính). Cơ sở thuế này nhỏ vì khu vực tư nhân đã bị cải tạo; chợ địa phương vẫn nộp thuế nhưng không có số công bố.
Thu quốc doanh. Chế độ thu quốc doanh được sửa để vừa hỗ trợ sản xuất vừa giữ nguồn thu ngân sách; sau Hiệp định Paris 1973, quản lý tài chính siết lại, xí nghiệp được tự chủ hơn và chịu trách nhiệm tài chính (Thời báo Tài chính). Mặt trái: ngành than cần tới 24 triệu đồng trợ cấp nhà nước trong một năm vì lỗ (Bộ Công Thương); thu quốc doanh là nguồn thu lớn nhất trong nước nhưng cũng là nơi ngân sách phải bù.
Huy động trong nước khác. Công trái xây dựng (Nhà máy dệt 8/3), xổ số kiến thiết cấp tỉnh (Thời báo Tài chính); lao động nghĩa vụ (dân công, thanh niên xung phong) cho giao thông và thủy lợi; nghĩa vụ quân sự. Đây là thuế bằng thời gian, không ghi trong ngân sách.
Viện trợ. Nhập khẩu miền Bắc phần lớn là hàng viện trợ, nhà nước gần như không có ngoại thương bằng ngoại tệ tự có (Bộ Công Thương). Viện trợ Trung Quốc cao nhất giai đoạn 1971–1973, khoảng 9 tỷ nhân dân tệ theo Li Danhui; xe vận tải Trung Quốc cấp tăng từ 4.011 (1971) lên 8.758 (1972); Liên Xô là nguồn nhiên liệu lớn nhất 1965–1972; từ 5/1972 đến 5/1973, gần 80% trong 646.276 tấn hàng viện trợ quá cảnh cảng Trung Quốc là hàng Liên Xô (Nghiên cứu quốc tế). Không có số chính thức về tỷ trọng viện trợ trong ngân sách; các ước lượng phương Tây cho giai đoạn 1965–1975 nằm trong khoảng một nửa tới hai phần ba tổng thu ngân sách nhà nước nếu tính cả hàng viện trợ bán ra. Ghi là ước lượng.
Chi viện miền Nam. Trong 1966–1968, Trung ương tăng chi viện bằng đô la tiền mặt để Ban Kinh tài miền Nam đổi sang tiền Sài Gòn và ngoại tệ phù hợp (Thời báo Tài chính). Tức là ngân sách miền Bắc vừa thu thuế của dân mình, vừa tài trợ một hệ thuế thứ ba ở miền Nam bằng đô la.
Miền Nam 1955–1963: Chương trình nhập cảng thương mại thay cho một hệ thuế
Dưới thời Ngô Đình Diệm, nguồn thu lớn nhất của ngân sách không phải thuế mà là tiền đồng do nhà nhập cảng nộp để mua đô la viện trợ. Mỹ trả phần lớn chi phí quân đội, cảnh sát và công chức qua Chương trình nhập cảng thương mại (CIP) (Wikipedia, Commercial Import Program).
Cơ chế CIP. Mỹ giao đô la cho Ngân khố Việt Nam; nhà nhập cảng có giấy phép mua số đô la đó bằng tiền đồng theo nửa tỉ giá chính thức 35 đồng/đô la, dùng đô la mua hàng Mỹ; tiền đồng thu được đưa vào một quỹ tại Ngân hàng Quốc gia để trả lương quân đội, cảnh sát và hành chính. Thuế nhập cảng thực tế bằng 50% tỉ giá chiết khấu, và các khoản này là thu thường xuyên, không chịu giám sát của Mỹ (Wikipedia, CIP). Nói cách khác, quan thuế và quỹ đối giá là một: nhà nước thu thuế trên hàng mà người đóng thuế Mỹ đã trả tiền mua.
Quy mô. Năm 1955, chi tiêu Mỹ 322,4 triệu đô la, khoảng 87% qua CIP; 1955–1961 tổng viện trợ 1,447 tỷ đô la, phần lớn qua CIP, cộng 95,6 triệu cho vay; năm 1958 và 1959 CIP chiếm khoảng 80% viện trợ kinh tế; đến 1960 Sài Gòn tích lũy được 216,4 triệu đô la dự trữ; khoảng 43% thu từ CIP đi vào chi quân sự (Wikipedia, CIP). Viện trợ kinh tế trung bình khoảng 210 triệu đô la mỗi năm trong 1955–1963, gần 10% GDP; viện trợ và cho vay lên tới 15% GNP đầu thập niên 1960 (Grokipedia, tổng hợp từ CIA và Fed).
Hệ thuế chính thức. Quan thuế và thuế doanh thu (một thứ thuế chuyển nhượng chung) là hai nguồn thu lõi; thuế lợi tức gần như không đáng kể vì trốn thuế, hành chính yếu và cơ sở hẹp (Grokipedia). Năm 1956 Nghị định 418 đặt ký quỹ 10% cho nhập cảng. Lạm phát 1955–1964 dưới 10%/năm, vì viện trợ cung cấp hàng để hút tiền đồng.
Thuế điền thổ và Dụ 57. Cải cách điền địa 1956 (Dụ 57) hạn điền 100 ha và bán lại ruộng truất hữu cho tá điền; theo đánh giá UNU-WIDER, chỉ khoảng một phần mười gia đình nông dân hưởng lợi và giới chủ đất chống cải cách (UNU-WIDER 2013/085). Hệ quả về thuế: thuế điền thổ ở nông thôn vẫn thu qua địa chủ và hội đồng xã, trong khi Mặt trận bắt đầu thu thuế song song trên cùng thửa ruộng từ 1960.
Hệ quả cấu trúc. CIP làm Sài Gòn không cần xây hệ thuế trực thu trong tám năm quyết định. Năm 1957 ít nhất 75% hàng nhập là hàng tiêu dùng hoặc nguyên liệu làm hàng tiêu dùng; giấy phép nhập cảng được bán lại với lợi nhuận cao; Diệm từ chối phá giá nên xuất khẩu mất sức cạnh tranh (Wikipedia, CIP). Khi chiến tranh leo thang, nhà nước phải thu thuế thật trên một nền kinh tế đã quen không bị thu.
Miền Nam 1964–1975: từ lạm phát làm thuế tới một hệ thuế thật, quá muộn
Trong mười năm cuối, Sài Gòn đi từ chỗ để lạm phát thu thuế thay mình (1965–1969) đến chỗ dựng được một hệ thuế gần chuẩn hiện đại (1972–1974), đúng lúc viện trợ bị cắt. Năm 1974 thuế chiếm 48% ngân sách, mức cao nhất của cả thời kỳ, và vẫn không đủ (Taylor, Voices).
1965–1969: lạm phát là thuế. Chi phí chiến tranh ngốn hơn 60% ngân sách và 18% sản lượng; thâm hụt vượt 20% GDP cuối thập niên 1960; viện trợ Mỹ chi trả tới 60% ngân sách năm 1967 và khoảng 62% chi công cuối thập niên; lạm phát 1964–1969 tích lũy khoảng 500%, 30–55%/năm trong 1965–1970; cung tiền 1965–1972 tăng hơn 600% (Grokipedia, tổng hợp CIA/Fed). Tháng 6/1966, cải cách tỉ giá đưa đồng từ mức hiệu dụng 80 lên 118 đồng/đô la kèm phụ thu 38 đồng trên phần lớn hàng nhập, tương đương phá giá khoảng 50% (cùng nguồn). Viện trợ kinh tế trung bình khoảng 650 triệu đô la/năm trong 1965–1974, gấp ba giai đoạn trước (Taylor, Voices).
1969: thuế kiệm ước thất bại. Tháng 10/1969, thuế kiệm ước đánh vào hơn 200 mặt hàng nhập, từ xăng dầu tới rượu, với mục tiêu thu thêm 40 tỷ đồng; theo Phạm Kim Ngọc chỉ thu được khoảng 4 tỷ, một phần mười, vì nhiều mức thuế không vận hành được và nhà nhập cảng thông đồng với quan chức; thâm hụt 1969 lên 50 tỷ đồng, chợ đen 400 đồng/đô la (hồi ức Phạm Kim Ngọc). Nguồn Taylor ghi mục tiêu là 10 tỷ (Voices); hai nguồn mâu thuẫn, giữ cả hai. Đại sứ Bunker gọi các trạm quan thuế không kiểm soát được là một tai tiếng lớn.
1970–1972: cải cách Phạm Kim Ngọc. Quan thuế rút từ hơn 200 mức xuống bốn mức 0, 25, 50, 200%; tháng 11/1971 khoảng 800 hạng mục gộp vào bốn mức, hạ thuế tư liệu sản xuất, tăng thuế hàng tiêu dùng, lấy tiền thuế trả tăng lương 1.500 đồng/tháng cho 1,47 triệu nhân viên (Grokipedia). Tỉ giá bò trườn từ 10/1970, rồi thả nổi 1971, phá giá tháng 11/1971 từ 275 lên hơn 400 đồng/đô la; lãi suất tiền gửi đẩy lên 22%/năm; tiền gửi tư nhân quý III/1970 đạt 8 tỷ đồng, gần bằng thu thuế nội địa cả năm — con số cho thấy thuế thật lúc đó nhỏ thế nào; ngân hàng mua tín phiếu kho bạc, tới 90 tỷ đồng, bằng 12% ngân sách 1974 (Phạm Kim Ngọc). Ngân sách 1970 dự kiến từ 131 lên 200 tỷ đồng. Thu nội địa đầu thập niên 1970 chỉ phủ khoảng 30–40% chi tiêu (Grokipedia).
Thuế trị giá gia tăng. Ban hành bằng sắc luật theo Luật Chương trình, không qua Quốc hội, sau cải cách 1970 (năm 1972 theo các nguồn Việt); thuế suất ban đầu 10%, miễn hàng thiết yếu; Ngọc lập luận nó đánh được phần lớn tiêu dùng tư nhân và cho dữ liệu kiểm toán tốt hơn thuế lợi tức (Phạm Kim Ngọc). Đây là một trong những thuế GTGT sớm nhất châu Á. Hệ thuế được đại tu từ 1972 và đến 1974 gần đạt chuẩn hiện đại; thu thuế 1973 tăng 70% so với 1972, khoảng 17% sau lạm phát (Taylor, Voices).
Người cày có ruộng xóa cơ sở thuế điền. Chương trình tốn 450 triệu đô la, khoảng một nửa ngân sách quốc phòng, trả 20% tiền mặt và 80% trái phiếu mười năm cho chủ đất, chuyển khoảng 2,6 triệu mẫu cho hơn một triệu gia đình (Taylor, Voices). Về thuế, nó thay một lớp địa chủ có thể thu thuế bằng hàng triệu tiểu nông được miễn, và lấy đi của Mặt trận lý do thu thuế ruộng ở nhiều vùng.
1973–1975: thuế thật, viện trợ mất. Năm 1973 kể cả đóng góp của Mỹ, thu chỉ phủ 64% chi, khoảng cách rộng nhất từ 1965; viện trợ quân sự rơi từ hơn 2 tỷ đô la (1973) xuống 813 triệu (1974); yêu cầu viện trợ kinh tế 250 triệu cho 1975 bị coi là không đủ (Grokipedia). Ngân sách 1974 khoảng 720 tỷ đồng, tăng 40% danh nghĩa so với 1973: thuế 343 tỷ (48%), chuyển khoản đối giá viện trợ 258 tỷ (36%), tín phiếu bán cho ngân hàng 90 tỷ, ứng trước của Ngân hàng Quốc gia 29 tỷ (4%) (Taylor, Voices). Nhập khẩu 1974: 855 triệu đô la, trong đó viện trợ Mỹ 636 triệu, ngoại tệ tự có 196 triệu. Lạm phát 65% (1973), 41% (1974); giá xăng dầu tăng 66–140% tháng 1/1974; đồng từ 550 xuống 685/đô la trong năm 1974. Theo các tác giả Việt trong Taylor, không có viện trợ thì thâm hụt có thể tới 40% ngân sách và lạm phát trên 100%. Đến 1974, thu thuế tăng 70% so với trước cải cách (Phạm Kim Ngọc); hệ thuế đã hoạt động đúng lúc nền thuế bị hai cú đánh cùng năm: giá dầu và cắt viện trợ.
Hệ thuế thứ ba: Mặt trận thu thuế trên cùng mảnh đất với Sài Gòn
Từ 1961 đến 1975, miền Nam có hai bộ máy thuế chồng lên nhau: Sài Gòn thu ở đô thị và trục đường, Ban Kinh tài Trung ương Cục thu ở nông thôn, trên đường và cả trong vùng đối phương kiểm soát. Nông dân vùng tranh chấp trả cả hai; đồn điền cao su cũng vậy.
Bộ máy. Ban Kinh tài Trung ương Cục miền Nam kế thừa Ban Kinh tài Xứ ủy Nam Bộ, lập năm 1961, có mạng lưới khắp các tỉnh và thành phố, do Phạm Văn Xô (Hai Xô) phụ trách; Trung ương Cục tái lập ngày 23/1/1961 ở Chiến khu Đ, năm 1962 dời về Tây Ninh (Thời báo Tài chính, Tạp chí Kinh tế Tài chính). Nghiên cứu RAND 1968 về hậu cần Việt Cộng xác định Ban Kinh tài (Finance and Economic Section) là cơ quan thu chủ yếu, và hơn ba phần tư hậu cần dựa vào dân thường: vận tải, xây dựng, sản xuất lương thực, tải thương (RAND RM-5423-1).
Thuế nông nghiệp vùng giải phóng. Năm 1964 thí điểm đảm phụ nông nghiệp ở vùng mới giải phóng, tính theo diện tích, sản lượng và nhân khẩu, thu khoảng 11–12% thu hoạch của nông dân, sau mở rộng ra mọi tỉnh và sang công thương nghiệp (Thời báo Tài chính). Mức này cao hơn thuế suất thực của miền Bắc cùng thời, và cao hơn hẳn thuế điền Sài Gòn thu được ở nông thôn. Dân gian gọi thuế của phía cách mạng là thuế ngôi sao (Nghiên cứu lịch sử).
Quy mô. Tổng thu ở miền Nam năm 1968 bằng gần hai phần ba toàn bộ ngân sách miền Nam trong sáu năm chiến tranh đặc biệt 1960–1965; ngành tài chính gắn con số này với Tết Mậu Thân (Thời báo Tài chính). Ngoài thuế, Mặt trận phát hành công trái cách mạng và công phiếu kháng chiến, và nhận đô la tiền mặt từ miền Bắc trong 1966–1968 để đổi sang tiền Sài Gòn (cùng nguồn). Điểm then chốt: Mặt trận mua lương thực và hàng hóa bằng tiền đồng Sài Gòn ngay trong thị trường Sài Gòn, nên một phần viện trợ Mỹ chảy qua chợ đen sang kho của Mặt trận, lặp lại đúng cơ chế piastre 1953.
Cao su: trả hai bên. Xuất khẩu cao su 1961 đạt 83.403 tấn, giá trị cao nhất 1,7 tỷ đồng năm 1957; năm 1965 cao su chiếm 76% xuất khẩu; Sài Gòn nâng thuế xuất khẩu cao su từ 3% (1954) lên 40% (1960), thu khoảng 500 triệu đồng năm 1963, hạ xuống 20% năm 1970 (Tạp chí KHXH&NV, cao su miền Nam 1954–1975). Các đồn điền Pháp (Terres Rouges, SIPH, Michelin) nằm trong vùng tranh chấp Bình Long, Phước Long, Dầu Tiếng; việc đồn điền nộp khoản thu cho Mặt trận để được yên là điều được giới nghiên cứu phương Tây ghi nhận rộng rãi, nhưng bài khảo cứu Việt Nam dẫn trên không nêu con số; sản lượng rơi từ 78.140 tấn (1961) xuống khoảng 13.000 tấn (1965) rồi dưới 30.000 tấn sau 1968, nên cơ sở thuế của cả hai bên đều teo cùng lúc.
Thuế trên đường. Trạm thu trên quốc lộ và sông rạch đánh vào xe tải, ghe hàng và thương lái đi vào vùng đối phương; đây là nguồn tiền mặt quan trọng vì nó thu được tiền Sài Gòn chứ không phải thóc. Các báo cáo CIA về tình hình miền Nam 1967–1968 nhắc tới thu thuế như một chỉ dấu kiểm soát lãnh thổ (CIA, Situation in Vietnam, 4/12/1967).
Nghĩa của hệ thứ ba. Mặt trận không có ngân hàng trung ương, không có thuế quan, không có viện trợ Mỹ, nhưng có thứ Sài Gòn thiếu: bộ máy thu ở cấp làng. Khi Người cày có ruộng (1970) miễn thuế điền cho tiểu nông, Sài Gòn đồng thời bỏ cơ sở thuế của mình và làm mỏng cơ sở thuế của Mặt trận; đó là cuộc cạnh tranh thuế hiếm thấy trong lịch sử chiến tranh.
Số liệu gốc: bảng thu của Sài Gòn 1962–1967 theo Dacy (IDA, 1969)
Đây là chuỗi số đầy đủ nhất về thu ngân sách VNCH trước 1968, lấy từ nghiên cứu nội bộ của Institute for Defense Analyses (Dacy, The Fiscal System of Wartime Vietnam, S-337, 2/1969, bản OCR). Kết luận của Dacy nói hết về bản chất hệ thuế: khoảng 60% thu thuế nội địa đến từ chín hãng với khoảng 5.000 công nhân, và khoảng 90% được thu ở khu vực Sài Gòn. Nhà nước thu thuế trên bia, nước ngọt, thuốc lá và xăng dầu, không thu trên dân.
Thu ngân sách trung ương, triệu đồng (Bảng 1, 3, 6, 7 của Dacy)
| Nguồn | 1962 | 1963 | 1964 | 1965 | 1966 | 1967 |
|---|---|---|---|---|---|---|
| Thuế trực thu (lợi tức, điền thổ, môn bài) | 1.323 | 1.633 | 1.072 | 1.095 | 1.417 | 3.129 |
| Thuế gián thu (xăng, sản xuất, giải trí, thịt, xe...) | 2.032 | 2.420 | 2.493 | 2.824 | 3.912 | 4.992 |
| Thuế tiêu thụ đặc biệt (thuốc lá, bia, nước ngọt, đường, rượu) | 1.409 | 1.545 | 1.734 | 2.703 | 5.162 | 7.798 |
| Thuế trước bạ, thừa kế, cổ tức, tem | 685 | 906 | 850 | 1.137 | 2.254 | 3.005 |
| Tổng thuế nội địa | 5.449 | 6.506 | 6.189 | 7.759 | 12.745 | 18.924 |
| Thu khác (cơ quan, xổ số kiến thiết, đặc biệt) | 1.604 | 1.674 | 2.077 | 3.185 | 3.872 | (không đọc được) |
| Quan thuế + thuế kiệm ước | 4.772 | 4.612 | 5.070 | 5.570 | 11.674 | 15.609 |
| Viện trợ Mỹ ghi vào ngân sách (đối giá CIP + Food for Freedom) | 7.509 | 7.369 | 6.359 | 9.984 | 19.777 | 24.627 |
| Tổng thu kể cả viện trợ | 19.334 | \~20.200 | \~19.700 | \~26.500 | \~48.100 | \~63.000 |
Các tổng có dấu \~ do tôi cộng từ các dòng vì ô tổng trong bản OCR không đọc được; số 1967 của thu khác lấy ước bằng mức 1966.
Đọc bảng
- Thuế trực thu gần như đứng yên 1962–1966 (1,3 → 1,4 tỷ) trong khi giá tăng khoảng 3,4 lần: thuế lợi tức và thuế điền thổ thực tế giảm hai phần ba. Thuế điền thổ 1967 chỉ 77 triệu đồng trên cả nước — nhà nước Sài Gòn thực tế không thu thuế ruộng.
- Toàn bộ mức tăng 1965–1967 nằm ở thuế tiêu thụ đặc biệt (bia tăng từ 756 lên 2.359 triệu, nước ngọt từ 184 lên 1.067 triệu, thuốc lá từ 1.590 lên 4.064 triệu) và quan thuế sau phá giá 6/1966. Đây là thuế đánh vào người lính Mỹ và dân đô thị tiêu tiền đô la, không phải vào nền kinh tế Việt Nam.
- Thuế nội địa so với tổng thu kể cả viện trợ: 28% (1962), 30% (1967); viện trợ Mỹ: 39% cả hai năm. Tỷ lệ gần như không đổi trong năm năm leo thang.
- Nhập khẩu từ 264,5 triệu USD (1962) lên 538 triệu (1967), phần Mỹ tài trợ từ 163,4 lên 235,3 triệu; thuế suất quan thuế thực tế trên giá thị trường rơi từ 26,5% xuống 14,4% năm 1966 vì tỉ giá cố định để lợi nhuận chênh lệch lại cho nhà nhập cảng, đúng cơ chế piastre 1953 (Bảng 3).
- Chi ngân sách tăng từ 21,6 tỷ (1962) lên 109,8 tỷ đồng (1967); so với tổng thu \~63 tỷ, thâm hụt 1967 vào khoảng 40–45% chi tiêu, bù bằng vay Ngân hàng Quốc gia; cung tiền từ 17,2 tỷ cuối 1961 lên 82,6 tỷ cuối 1967, tăng 380%. Phần thuế thật do người giữ tiền đồng trả nằm ở đây.
- Tỷ lệ thuế nội địa trên GNP: Dacy không nêu; lấy GNP 1967 theo Ngân hàng Quốc gia 350 tỷ đồng thì thuế nội địa 18,9 tỷ bằng khoảng 5,4% GNP, cộng quan thuế thì khoảng 10%. Tính toán của tôi, không phải của tác giả.
Phá giá 6/1966 theo Dacy. Tỉ giá chính thức 80, tỉ giá thực tế 118 đồng/USD với phụ thu củng cố kinh tế 38 đồng; thuế cân bằng 58 đồng đánh lên hàng đang trên đường về; thuế cân bằng giá (perequation) khôi phục đầy đủ từ 3/1966. Phá giá tạm chuyển lợi nhuận chênh lệch từ nhà nhập cảng sang Ngân khố, nhưng khi giá trong nước tiếp tục tăng, chênh lệch quay về tay nhà nhập cảng; Dacy khuyến nghị tăng quan thuế, phá giá lần hai hoặc tỉ giá linh hoạt — chính là lộ trình Phạm Kim Ngọc thực hiện 1970–1971.
Bảng 8 và 10 của Dacy: chi tiêu được trả bằng gì (từ bản OCR đầy đủ)
| Tỷ đồng | 1962 | 1963 | 1964 | 1965 | 1966 | 1967 |
|---|---|---|---|---|---|---|
| Tổng chi | 21,6 | 23,1 | 30,2 | 52,0 | 64,4 | 109,8 |
| trong đó quốc phòng | 11,6 | 12,0 | 15,8 | 30,8 | 38,6 | 57,0 (ước của Dacy, 60% chi ngân sách) |
| trong đó dân sự | 10,0 | 11,1 | 14,4 | 21,2 | 25,8 | 38,1 |
| khác (trợ giá gạo...) | 14,7 | |||||
| Thuế và thu hành chính | 11,8 | 12,8 | 13,3 | 16,5 | 29,3 | 40,6 |
| Viện trợ Mỹ | 7,5 | 7,4 | 6,4 | 10,0 | 19,8 | 24,6 |
| Nguồn khác (thu ngoài ngân sách, lệ phí hành chính) | 1,2 | 0,3 | 4,6 | 9,7 | 11,0 | 25,3 |
| Ngân hàng Quốc gia ứng cho Ngân khố | 1,1 | 2,6 | 6,3 | 16,2 | 5,3 | 7,2 |
| % tổng chi được trả bởi | 1962 | 1963 | 1964 | 1965 | 1966 | 1967 |
|---|---|---|---|---|---|---|
| Thuế nội địa | 25,2 | 28,2 | 20,5 | 14,9 | 19,8 | 17,2 |
| Thu khác | 7,4 | 7,2 | 6,9 | 6,1 | 6,0 | 5,5 |
| Quan thuế và thuế kiệm ước | 22,1 | 20,0 | 16,8 | 10,7 | 18,1 | 14,2 |
| Tổng nguồn chính quy | 54,7 | 55,4 | 44,2 | 31,7 | 43,9 | 36,9 |
| Lệ phí hành chính (perequation, trích tỉ giá) | 22,8 | 11,4 | ||||
| Viện trợ Mỹ | 34,8 | 31,9 | 21,1 | 19,2 | 30,7 | 22,4 |
| Tài trợ thâm hụt (in tiền) | 10,5 | 12,7 | 34,7 | 49,1 | 3,2 | 29,3 |
Nguồn: Dacy, Bảng 8 (tr. 51) và Bảng 10 (tr. 55); năm tài khóa VNCH dài 17 tháng, Dacy đã quy về năm dương lịch; trợ giá gạo riêng năm 1967 khoảng 6–7 tỷ đồng.
Hai dòng cuối là câu trả lời cho câu hỏi 'ai thật sự trả': năm 1965, gần một nửa chi tiêu (49,1%) được trả bằng in tiền — Ngân khố vay Ngân hàng Quốc gia 16 tỷ, bằng 56% cung tiền năm trước, giá tăng 27% nửa cuối năm; năm 1966 phá giá và lệ phí hành chính kéo thâm hụt về 3,2%; năm 1967 lại 29,3%. Dacy kết luận: thu qua kênh chính quy thường dưới một nửa, có năm dưới 40% tổng chi, phần lớn còn lại trả bằng lệ phí hành chính, viện trợ Mỹ và vay Ngân hàng Quốc gia. Tiêu dùng tư nhân chiếm 74–85% GNP suốt 1962–1967 (Bảng 9), nghĩa là chiến tranh không làm dân miền Nam bớt tiêu dùng; so với Mỹ 1942–44 tiêu dùng tư nhân rơi xuống 51–56%.
Hành thu, theo đoàn IRS 1966 (báo cáo Foley) và Dacy (mục 4.1): trốn thuế toàn phần phổ biến; kiểm toán doanh nghiệp 1962–65 thu thêm trung bình khoảng một triệu đồng mỗi cuộc nhưng chỉ kiểm được một phần nhỏ; năm 1967 trong 30.000 nhà kinh doanh ở Chợ Lớn chỉ 500 khai có lãi, và lương công tư chức nộp 700 triệu đồng thuế, gấp bốn lần toàn bộ giới kinh doanh Sài Gòn–Chợ Lớn; thuế xe ở Sài Gòn–Chợ Lớn 1967 chỉ thu được 60% mức đáng thu; hàng nhập khai theo mã NC mơ hồ nhưng kiểm theo mã BTN, nên khai sai hạng để hưởng thuế cân bằng thấp; bia bị đánh thuế năm lần chồng nhau (môn bài, sản xuất, tiêu thụ đặc biệt, cân bằng, quán rượu) và Bộ Tài chính từ chối bỏ vì sợ sau này không xin lại được Quốc hội. Dacy nhấn mạnh đây không phải vấn đề thiếu ý chí hay tham nhũng mà là không thể thu thuế lợi tức ở nơi không biết thành phố có bao nhiêu dân.
Bảng so sánh theo giai đoạn
Bảng này xếp ba hệ thuế theo bốn giai đoạn; con số có nguồn ghi trong các mục trên, con số ước lượng đánh dấu (ước).
| Giai đoạn | Miền Bắc (VNDCCH) | Miền Nam (VNCH) | Mặt trận (vùng giải phóng và tranh chấp) |
|---|---|---|---|
| 1955–1960 | Thuế nông nghiệp bằng thóc là nguồn trong nước lớn nhất; sản lượng tính thuế ấn định 1958; cải tạo công thương làm thuế công thương nghiệp teo, thu quốc doanh thay thế; viện trợ TQ–LX ước một phần ba tới một nửa đầu tư (ước) | CIP thay thuế: 1955–61 viện trợ 1,447 tỷ USD, CIP chiếm \~80% viện trợ kinh tế 1958–59; quan thuế + thuế doanh thu là thuế lõi; thuế lợi tức không đáng kể; lạm phát dưới 10%/năm | Chưa có hệ thống; thu ủng hộ tự nguyện và đảm phụ rải rác ở Nam Bộ cũ |
| 1961–1964 | Hợp tác hóa xong; thuế nông nghiệp ổn định 1963–65 ở mức 1961 trên sản lượng 1958; nghĩa vụ bán thóc giá chỉ đạo thành kênh thu chính; thuế suất thực trên sản lượng thực giảm dần | Viện trợ kinh tế \~210 triệu USD/năm, gần 10% GDP; đầu thập niên 1960 viện trợ + vay tới 15% GNP; thuế điền thu qua địa chủ và hội đồng xã | Ban Kinh tài TW Cục lập 1961; thí điểm đảm phụ nông nghiệp 1964 thu 11–12% thu hoạch, sau mở rộng mọi tỉnh và sang công thương |
| 1965–1972 | Thu ngân sách 1966–73 tăng 12,7%/năm; điều lệ thuế công thương nghiệp 1/1966; thu quốc doanh sửa đổi; tem phiếu 13–24 kg/tháng; viện trợ TQ cao nhất 1971–73 (\~9 tỷ NDT), LX cấp phần lớn nhiên liệu; viện trợ ước một nửa tới hai phần ba tổng thu (ước); dân công, công trái, xổ số | Lạm phát 30–55%/năm, tích lũy \~500% 1964–69; viện trợ phủ \~60% ngân sách 1967, \~62% chi công cuối thập niên; phá giá 6/1966 (80→118) và 11/1971 (275→400+); thuế kiệm ước 1969 thu 4 tỷ trên mục tiêu 40 tỷ; quan thuế rút về 4 mức 1971; TVA 10% ban hành bằng sắc luật \~1972; thu nội địa phủ 30–40% chi | Thu 1968 bằng gần 2/3 tổng thu 1960–65; đô la tiền mặt từ miền Bắc 1966–68 đổi sang tiền Sài Gòn; công trái cách mạng; trạm thu trên đường; đồn điền cao su trả hai bên; Người cày có ruộng 1970 làm mỏng cơ sở thuế ruộng |
| 1973–1975 | Sau Paris: siết quản lý tài chính, xí nghiệp tự chủ hơn; cần nhập \~500.000 tấn lương thực trước vụ xuân 1973; thu 1973 gấp 2,3 lần 1966; viện trợ TQ giảm sau 1/1973, cắt về mức không đáng kể 11/1975 | Hệ thuế đại tu từ 1972, 1974 gần chuẩn hiện đại; thu thuế 1973 +70% danh nghĩa; ngân sách 1974 \~720 tỷ: thuế 343 tỷ (48%), đối giá viện trợ 258 tỷ (36%), tín phiếu 90 tỷ, ứng NHQG 29 tỷ; viện trợ quân sự 2 tỷ USD (1973) → 813 triệu (1974); lạm phát 65% rồi 41%; đồng 550→685/USD trong 1974 | Thu thuế mở rộng theo vùng kiểm soát sau Paris; từ 1975 hệ thuế này tiếp quản toàn miền Nam |
Đọc bảng theo cột 'ai trả': ở miền Bắc, nông dân trả qua giá và lao động, người tiêu dùng đô thị trả qua tem phiếu, phần còn lại do Bắc Kinh và Moskva trả; ở miền Nam, người đóng thuế Mỹ trả phần lớn tới 1973, người giữ tiền đồng trả qua lạm phát, và người tiêu dùng chỉ bắt đầu trả thật từ TVA 1972; ở vùng tranh chấp, nông dân trả hai lần.
Biểu đồ: cái thay cho thuế ở miền Nam
Viện trợ Mỹ là dòng tiền lớn nhất trong nền tài chính công của miền Nam, và đường cong của nó giải thích vì sao Sài Gòn chỉ dựng được hệ thuế thật khi dòng tiền ấy sắp cạn.
Tổng 1954–1975 là 115,7 tỷ USD (giá 2011), khoảng 27% toàn bộ viện trợ Mỹ giai đoạn đó, nhiều hơn Hàn Quốc (69,1 tỷ) và Đài Loan (41,8 tỷ) cộng lại (UNU-WIDER 2013/085). Đỉnh 1973 trùng với năm thuế 1973 tăng 70%: cả hai cùng lên vì Paris, rồi viện trợ rơi một mình. Cho miền Bắc không có chuỗi tương đương công khai; ước lượng viện trợ Liên Xô cả cuộc chiến nằm trong khoảng 3,6–8 tỷ USD theo các nguồn phương Tây, Trung Quốc tương đương hoặc lớn hơn ở giai đoạn đầu (Nghiên cứu lịch sử, ước lượng).
Tổng hợp: ba hệ thuế, một kết luận
Không bên nào trong ba bên thu đủ thuế để trả cuộc chiến của mình; khác biệt nằm ở chỗ mỗi bên giấu phần thiếu ở đâu.
| Miền Bắc | Miền Nam | Mặt trận | |
|---|---|---|---|
| Thuế hiện | Thuế nông nghiệp bằng thóc, cố định từ 1963; thuế công thương nghiệp 1966 trên cơ sở đã bị cải tạo | Quan thuế, thuế doanh thu; TVA 10% từ \~1972; thuế lợi tức gần bằng không | Đảm phụ nông nghiệp 11–12% thu hoạch (1964); đảm phụ công thương |
| Thuế ẩn | Giá chỉ đạo thấp hơn thị trường trên thóc nghĩa vụ; thu quốc doanh; tem phiếu; dân công | Lạm phát 30–65%/năm 1965–1973; chênh lệch tỉ giá chính thức và chợ đen | Lao động dân thường cho hậu cần (hơn 3/4 theo RAND); trạm thu trên đường |
| Người bảo trợ | Trung Quốc, Liên Xô: hàng, nhiên liệu, gạo; ước một nửa tới hai phần ba tổng thu thời chiến | Mỹ: tới 60% ngân sách 1967; 36% năm 1974 qua đối giá; đỉnh 15,7 tỷ USD (giá 2011) năm 1973 | Miền Bắc: đô la tiền mặt 1966–68; nguồn gián tiếp từ chính thị trường Sài Gòn |
| Ai trả thật | Nông dân hợp tác xã và người ăn tem phiếu | Người đóng thuế Mỹ, rồi người cầm tiền đồng | Nông dân vùng tranh chấp, trả hai lần |
Ba điểm rút ra:
- Thuế thấp là lựa chọn, không phải thất bại. Sài Gòn giữ thuế thấp vì CIP cho phép; Hà Nội giữ thuế nông nghiệp cố định vì giá chỉ đạo thu được nhiều hơn mà không gây phản ứng như tăng thuế. Cả hai đều chọn kênh ít nhìn thấy nhất.
- Hệ thuế thật chỉ xuất hiện khi người bảo trợ rút. Miền Nam đại tu thuế 1972–1974 và đạt 48% ngân sách đúng lúc viện trợ bị cắt; miền Bắc siết quản lý tài chính và tự chủ xí nghiệp ngay sau Paris 1973 khi Trung Quốc bắt đầu giảm. Trình tự giống nhau ở hai bên.
- Cuộc chiến thuế ở nông thôn miền Nam là cuộc chiến bị bỏ qua. Mặt trận thu được 11–12% thu hoạch ở vùng nó kiểm soát trong khi Sài Gòn gần như không thu được gì ở nông thôn; Người cày có ruộng 1970 là lần duy nhất Sài Gòn dùng chính sách thuế để đánh vào cơ sở thuế của đối phương, bằng cách xóa luôn cơ sở của mình.
Điều còn trống để nghiên cứu
- Chuỗi thu ngân sách miền Bắc theo năm với tỷ trọng từng nguồn (thuế nông nghiệp, thuế công thương, thu quốc doanh, thu bán hàng viện trợ) chưa từng được công bố thành bảng liên tục; Niên giám thống kê và tài liệu Bộ Tài chính tại Lưu trữ quốc gia III là nơi duy nhất có.
- Giá chỉ đạo so với giá chợ cho thóc theo năm: đây là biến đo thuế ẩn, chưa ai dựng chuỗi.
- Sổ thu của Ban Kinh tài Trung ương Cục: các ước lượng chỉ có từ phía Mỹ (RAND, CIA); phía Việt Nam có tổng kết định tính nhưng chưa công bố số.
- Thuế GTGT 1972 của Sài Gòn: văn bản sắc luật, thuế suất, thu thực tế 1973–1975 cần tra tại Lưu trữ quốc gia II, fonds Phủ Tổng thống Đệ nhị Cộng hòa và Bộ Tài chính.
- Hai nguồn mâu thuẫn về mục tiêu thuế kiệm ước 1969 (40 tỷ theo Phạm Kim Ngọc, 10 tỷ theo Nguyễn Đức Cường trong Taylor); cần đối chiếu Công báo VNCH.
Nguồn
Sơ cấp và bán sơ cấp
- Douglas C. Dacy, The Fiscal System of Wartime Vietnam, Institute for Defense Analyses, Study S-337 — DTIC AD0692611 (PDF quét, không đọc máy được; cần tải về đọc). Nguồn định lượng đầy đủ nhất về thuế VNCH tới 1968.
- Douglas C. Dacy, Foreign Aid, War, and Economic Development: South Vietnam 1955–1975, Cambridge UP 1986 — Cambridge Core; chương 3 (thu nhập quốc dân), chương 6 (tiết kiệm nội địa và viện trợ).
- K. W. Taylor (chủ biên), Voices from the Second Republic of South Vietnam (1967–1975), Cornell SEAP 2014 — chương của Nguyễn Đức Cường về kinh tế và Cao Văn Thân về Người cày có ruộng; bản đọc anyflip.
- Phạm Kim Ngọc, Hồi ức: cải cách kinh tế thời Đệ nhị Cộng hòa — US-Vietnam Research Center, Oregon.
- Thông tư 03-TC-NN ngày 23/1/1964 hướng dẫn Thông tư 120-TTg 1963 về ổn định nghĩa vụ thuế nông nghiệp 1963–1965 — caselaw.vn; Nghị định 1056/TTg 22/9/1956 về thuế nông nghiệp miền núi — caselaw.vn.
- Bộ Tài chính / Thời báo Tài chính, Ngành Tài chính đóng góp to lớn cho Đại thắng mùa Xuân 1975 — thoibaotaichinhvietnam.vn; Ban Kinh tài Trung ương Cục miền Nam — Tạp chí Kinh tế Tài chính.
- Bộ Công Thương, Giai đoạn 1965–1975 — moit.gov.vn.
- RAND: Holliday & Gurfield, Viet Cong Logistics, RM-5423-1 (1968) — rand.org; Anderson, Arnsten & Averch, Insurgent Organization and Operations: Dinh Tuong 1964–1966, RM-5239-1 (1967) — rand.org.
- CIA, The Situation in Vietnam, 4/12/1967 và các báo cáo tình hình 1967–68 đã giải mật — intelligence.gov, Tet documents; CIA, The Economy of South Vietnam và Implications of Different Economic Aid Levels for South Vietnam in FY1975 (CIA Reading Room, tra theo tên).
- Wikipedia, Commercial Import Program (dựa trên Kahin và các nguồn Mỹ) — en.wikipedia.org.
- Tổng hợp Economy of the Republic of Vietnam (dẫn CIA, Fed IFDP 1972 Economic Reforms in South Vietnam, NYT 15/11/1971) — Grokipedia; dùng để tra chéo, không thay nguồn gốc.
Thứ cấp
- UNU-WIDER, Aid and development in Taiwan, South Korea, and South Vietnam, WP 2013/085 — PDF; bảng cam kết viện trợ Mỹ 1955–1975.
- Rubber industry in Southern Vietnam (1954–1975), Tạp chí KHXH&NV — vjst.vn.
- Yếu tố kinh tế trong rạn nứt quan hệ Việt–Trung 1972–75 (dựa trên Li Danhui và lưu trữ Trung Quốc) — nghiencuuquocte.org.
- Sản lượng lương thực và đời sống dân thường 1954–1975 — nghiencuulichsu.com; nguồn phổ thông, số ước lượng.
- Đặng Phong, Lịch sử kinh tế Việt Nam 1945–2000, tập II (1955–1975), NXB KHXH 2005; và Kinh tế miền Nam Việt Nam thời kỳ 1955–1975, NXB KHXH 2004 — chuẩn tiếng Việt, chưa có bản số hóa công khai.
- Keith Duke, Cost of the War in Vietnam, Army War College — DTIC AD0774217; chi phí phía Mỹ.
Kho để đi tiếp
- Trung tâm Lưu trữ quốc gia II (TP.HCM): fonds Phủ Tổng thống Đệ nhất và Đệ nhị Cộng hòa, Bộ Tài chính, Tổng nha Thuế vụ, Ngân hàng Quốc gia; Công báo VNCH cho sắc luật thuế TVA và thuế kiệm ước.
- Trung tâm Lưu trữ quốc gia III (Hà Nội): Bộ Tài chính, Ủy ban Kế hoạch Nhà nước, Tổng cục Thống kê (Niên giám thống kê 1955–1975), Bộ Lương thực.
- NARA RG 286 (USAID Vietnam) và Vietnam Center Texas Tech: báo cáo USAID về thu thuế và quỹ đối giá theo năm, đã số hóa nhiều.
- CIA Reading Room: tìm 'South Vietnam economy', 'piaster', 'Viet Cong taxation'.
- Lưu trữ Trung Quốc và Nga về viện trợ: Li Danhui, Shen Zhihua (Trung Quốc); RGAE, RGANI (Nga).
Từ khóa tra: thuế nông nghiệp, nghĩa vụ lương thực, giá chỉ đạo, thu quốc doanh, thuế công thương nghiệp, đảm phụ nuôi quân, Ban Kinh tài, quỹ đối giá, counterpart funds, Commercial Import Program, perequation tax, thuế kiệm ước, thuế trị giá gia tăng, Người cày có ruộng, Viet Cong taxation, Finance and Economic Section.
— Bốc Dịch Đại Toàn, Vi Nhật Sơn · bocdichvotranh.com