Luận quẻ
Tinh yếu Bốc Dịch
Tác giả Vi Nhật Sơn · Cập nhật
Tinh yếu Bốc Dịch là gì? Tinh yếu Bốc Dịch: Lục hào là một môn riêng biệt dựa trên quẻ Dịch mà dự báo, gom lại những điều cốt lõi về hào, vượng suy và ứng kỳ.
Tinh yếu Bốc Dịch: Bát quái gồm 8 quẻ: Càn Đoài Ly Chấn Tốn Khảm Cấn Khôn. Gồm 64 quẻ Dịch, vì 2 quẻ bát quái (kể cả trùng) chồng lên nhau thành 1 quẻ, 8x8= 64. Lục hào là một môn riêng biệt dựa trên quẻ Dịch mà dự báo.
Vai trò các hào trong quẻ
- Như một góc nhìn hẹp, Kết quả và thời gian là 2 yếu tố chủ đạo cấu thành nên kết quả, kế đó mới đến thông tin
- Hào Dụng đại diện cho sự việc, hoặc con người (tùy câu hỏi)
- Hào Thế chỉ bản thân, xu hướng bản thân, hướng đi hiện tại trong câu hỏi, và an nguy bản thân (ngoài lề gồm tính cách trong việc hỏi, lưu ý chỉ chủ đạo)
- Các câu hỏi về sức khỏe, an nguy người khác, hoặc sự việc riêng biệt không bao hàm bản thân - Không xem Thế
- 5 yếu tố trong 1 quẻ gồm: - Dụng thần, Nguyên thần, Cừu thần, Kỵ thần, Tiết thần. Bởi cả 5 đều có tên, nên không có việc vô tình động, bởi đã động, thì chắc chắn 1 trong 5
Vị trí hào và phạm vi xem
- Có thể thoát nạn không? Có, nếu Kỵ ở Ngoại động thì ở nhà, và ngược lại. Nếu Kỵ không động mà Thế suy, vô căn: Thế tại Ngoại ở nhà, Nội ra ngoài thì thoát
- Bệnh, lấy từ hào 1 đến 6 làm vị trí, 1 là từ đầu gối xuống chân, 6 là đầu. Nhưng đừng xem thường Tây y, đến cấp tế bào thì bố của ngũ hành cũng thua
- Tương tự, 1 là nền nhà, 6 là nóc, đừng thay việc của kiến trúc sư.
- Động 1 hay 6 hào, về kết quả mang tính chất như nhau, đều quy về 1 (hầu hết), rồi mới đến xét cùng Dụng, và cùng Thế
- Con, Cha, Vợ, Anh, nếu có việc đều có thể xem được, kể cả xem công danh, khi đó chỉ duy nhất xem Dụng, là ngôi người, không xem thêm ngôi việc (trong quan hệ với người hỏi, còn chính người đó hỏi thì xem như thường)
- Nay mưa, là hại, nhưng đối với mai, mưa hôm nay lại tốt, người xem quẻ cũng là người, người hỏi quẻ cũng là người, người nào làm việc người đấy, đừng phán xét, nếu cảm thấy trái với mình, đừng xem
- Con người cần gì? Không có câu trả lời chung, mà gồm nhiều khúc mắc và mưu cầu, cầu đâu đáp đấy, không có câu trả lời chung
Hào động, ám động, hợp và xung
- Hào động (trừ Kỵ) chỉ cần từ Hưu đã dùng được, Kỵ phải so với Dụng, ít nhất ngang cấp mới khắc được
- Ám động, cũng y như động, về mặt vai trò. Khác nhau về Ứng kỳ (trong ngày đối với Ám động), và không có hào biến
- Hào được xung bởi Nhật, và vượng, là hào ám động, vẫn có thể bị hợp với Nhật/Nguyệt, nhưng không hợp bởi hào động khác. Một điểm đặc biệt khác: Không bị hào khác xung mất
- Hào xung hào chia thành 2 dạng: Xung hào Dụng, hoặc Thế thì tạm thời mất (gần như Tuần không), lúc trực Dụng hoặc Thế là Ứng kỳ Dùng được, còn xung Nguyên thì tính mất hẳn (Việc hỏng nếu không phải hào cần Đế vượng)
- Hào hợp hào, hào đứng yên, lúc xung 1 trong 2 dùng được, trừ Nguyên
- Nguyên bị hợp không được xung thì hỏng (với trường hợp Thế - Dụng không đế vượng). Ngoài ra Nguyên hóa khắc, nhập Mộ cũng hỏng việc, tương tự
- Dụng cũng có thể trì Thế, Dụng cũng có thể động, tóm lại, chuyện gì cũng xảy ra được, chỉ gặp hay chưa mà thôi
Tâm thế người xem
- Ai cũng có lý do ban đầu với Dịch, đó là hải đăng trong thời khắc tuyệt vọng giữa đường. Không có đúng sai, chỉ có con đường cá nhân. Không giữ sơ tâm, thì tìm tâm khác. Nếu không có tâm, đời này cũng như đời khác thôi
- Cừu động, bệnh thì chết, còn việc, xa sẽ hỏng
- Kỵ không nhất nhất là người, có thể là thời. Thủy động mưa hỏng việc
- Làm đủ lâu tự người có mạch
- Dịch có vạn năng không, nếu vạn năng thì người viết đã độn nhập thiên không. Cuối cùng, ai cũng là người cả thôi
Trạng thái hào theo Nhật, Nguyệt
- Nguyệt xung hào nào thì hào đó Nguyệt Phá, còn hào đó có xuất hiện trong quẻ hay không là chuyện phía sau. Có 2 dạng tĩnh và động: Tĩnh mà không được hợp hay trực của Nhật thì tính vô căn, còn động thì trước lúc trực hợp tính ngược (với kết quả cuối)
- Tuần không là chênh lệch giữa 2 chi dôi ra khi lấy Thiên Can phối Địa chi của Nhật. Dư 2 chi nào, khởi từ Giáp, thì 2 chi đó là tuần không. Tĩnh và động khác nhau ở 2 điểm: Về Ứng kỳ, Động xác định cho cả Thời, còn Tĩnh chí ít từ Nhật; Về con người, nếu Tĩnh Không là người không thật, kết quả chắc chắn hỏng vì sự không thật. Lấy mốc Ứng kỳ gần nhất làm chuẩn, trước mốc tính ngược kết quả, và từ mốc đó trở đi sẽ tính thuận. Nếu Nhật xung thì tính như hào bình thường. Nguyệt xung tính vừa Phá vừa Không, lấy ứng kỳ theo Không. Nhật xung mà vượng vẫn tính ám động. Không hóa Không lấy mốc gần nhất. Không hóa Không được Nhật xung, vẫn tính Không với chi còn lại. Không thì không hợp hào khác được, hào động khác xung hào Không động mất Không, nhưng không tính tạm mất
- Có khí không được Nhật Nguyệt bị tiết tính Hưu, vượng bị tiết vẫn vượng
- Trường sinh dùng 4 Chi: Sinh, vượng, mộ, tuyệt. Hưu mà trường sinh tính vượng; suy, vô căn trường sinh vẫn tính vượng, nhưng ở xa. Đế vượng mặc định vượng. Kim hưu trường sinh tính khắc, thông tin tốt ban đầu, đó là ảo ảnh. Mộ chia mốc với mốc là xung Mộ, trước sau tương tự Không. Không mà Mộ dù động vẫn hỏng. Vượng 2 Mộ vẫn hỏng. Vượng mà tuyệt dùng được lúc trường sinh, Phá mà tuyệt dù động vẫn hỏng, so cả với Nhật
- Tam hợp đủ chi dù Không, Phá, Mộ, Khắc bất kể chi nào vẫn hội tam hợp. Khuyết chi chỉ tính khi 2 chi là 2 hào động, 1 trong 2 Không hay Phá vẫn không tính tam hợp. Chi đại diện của tam hợp tính vượng, tác động như 1 hào vượng, các chi khác bỏ qua. Nếu Thế hay Dụng kết quả cuối vẫn so với Biến
- Vượng bị Hình vẫn qua nhưng có họa, Hưu hình hỏng. Tam hình đâu cũng hỏng. 2 chi Hình 1 chi không tính Hình
Ứng kỳ, thứ tự và đa động
- Động thì hợp trực, tĩnh thì xung trực, Phá động hợp trực, Không xung trực, lấy cặp với Nhật, Mộ xung Mộ, tam hợp đủ xung chi Vượng, tam hợp có Không Phá lấy đó làm Ứng kỳ, tam hợp khuyết lấy Khuyết làm chuẩn. Hưu chờ trường sinh. Khắc với Kỵ yếu lấy xung Kỵ. Động bị hợp lấy xung hợp, 2 hào hợp xung đâu cũng được, 2 hào xung lấy xung hào xung. Phản ngâm hợp chi động, Phục ngâm xung chi Động. Tam hình lấy xung
- Thứ tự Dụng - Thế - Động
- Đa động vẫn theo thứ tự trên. Chuỗi Động phải được xác quyết kết quả, sau thay thế với “Động”. Công thức: so dưới với trên
- Hóa khắc xa chắc chắn hỏng, gần so với Nhật Nguyệt, nếu mạnh hoặc ngang thì ngay lập tức hỏng, thì yếu hơn thì xa mới hỏng. Nếu Không hay Phá thì tính cả mốc gần, với Ứng kỳ, tính ngược
- Phản ngâm việc lặp lại, nội trong nhà, hoặc nội tâm, và ngược lại. Phục ngâm là lo chẳng yên, đâu lo đấy
Xem thêm
— Bốc Dịch Đại Toàn, Vi Nhật Sơn · bocdichvotranh.com